chương 1 15 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, trang 34 14 công chức, văn phòng phẩm. Vậy theo khái niệm này thì tất cả các chi phí cho việc xét xử một vụ án đều gọi là án phí và khái niệm chưa đề cập án phí này do ai chịu. Nếu theo khái niệm này, chi phí tố tụng khác hiện nay trong các Bộ luật tố tụng như chi phí giám định, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá. cũng nằm trong án phí thì điều này không đúng.
Hiện nay, chi phí tố tụng khác không là án phí, không là khoản thu NSNN, nó là khoản chi phí theo cơ chế giá dịch vụ thị trường và nó đang được quy định trong Dự thảo Pháp lệnh về chi phí tố tụng khác. Khái niệm này nếu mở rộng cho khái niệm lệ phí Tòa án nó sẽ được hiểu là làm các loại thủ tục giấy tờ tại Tòa án vì lợi ích của chủ thể sử dụng dịch vụ, không nói đến mục đích cung cấp dịch vụ công của Nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh thì: “Án phí là phí tổn trong một vụ án: người thất kiện phải trả án phí”.16 Từ điển này cũng giải thích nghĩa như sau: “Phí tổn là tiền tiêu phí”17 và “Thất là mất, thua”.18 Với khái niệm này, vấn đề về nghĩa vụ chịu án phí đã được tác giả giải quyết trong khái niệm nhưng nếu nói phí tổn là tiền tiêu phí trong một vụ án thì có thể hiểu cả tiêu phí cho việc nộp cho Nhà nước và các tiêu phí không nộp cho Nhà nước mà để được giải quyết vụ án thì các tiêu phí này phải được xem là án phí. Từ điển cũng giải thích “Lệ phí là phí tổn”.19 Tức phải hiểu tất cả tiền tiêu phí, mà như vậy nó sẽ không thể là khoản ấn định sẵn trước.
Việc xét xử của Tòa án là để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan tư pháp theo quy định của Hiến pháp.20 Cụm từ “xét xử” cho ta hình dung đến sự “trấn áp”. Thật vậy, khi Nhà nước ta mới thành lập thì vai trò trấn áp của bộ máy Nhà nước được đề cao hơn là vai trò phục vụ, trấn áp các thế lực phản động nên không phải là Tòa án dân sự mà là Tòa án quân sự được thiết lập đầu tiên theo Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ 16 Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Thống kê, trang 12 17 Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh, tlđd (16), trang 649 18 Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh, tlđd (16), trang 866 19 Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh, tlđd (16), trang 479 20 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 15 lâm thời số 33C ngày 13 tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên, “theo quy luật vận động và phát triển của Nhà nước XHCN, bộ máy trấn áp thu hẹp dần cùng với quá trình phát triển của bộ máy quản lý KT–XH.21 Việc xét xử của Tòa án cũng chỉ nhằm “bảo vệ công lý, bảo về quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.22 Vì vậy, hiện nay, vai trò phục vụ trong hoạt động của bộ máy Nhà nước được đề cao hơn là trấn áp.
Vậy nên, việc xét xử của Tòa án cũng được xem là việc công, “dịch vụ công” mà Tòa án có nhiệm vụ cung cấp mang tính phục vụ. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay, Nhà nước không bao cấp toàn bộ tất cả các dịch vụ công cung cấp cho người dân mà nghĩa vụ của người dân cũng phải đóng góp theo quy định của pháp luật khi sử dụng một số dịch vụ công có quy định về phí và lệ phí. Trong số đó, việc xét xử của Tòa án có quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Hiện nay, án phí, lệ phí Tòa án được quy định trong Luật phí và lệ phí năm 2015.
Theo đó, phí được liệt kê trong Danh mục phí “phí thuộc lĩnh vực tư pháp” gồm có: “Án phí hình sự, án phí dân sự, án phí kinh tế án phí lao động, án phí hành chính”.23 Lệ phí Tòa án được liệt kê trong Danh mục lệ phí “lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân”.24 Phí theo luật này được giải thích là “khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này”.25 Theo khái niệm này, cá nhân, tổ chức khi sử dụng dịch vụ công phải trả một khoản tiền, khoản tiền này chỉ cơ bản bù đắp chi phí mà không phải hoàn toàn các loại chi phí và mang tính phục vụ. Phí cũng được định 21 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), “Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật”, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, trang 267 22 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 23 Mục 1, khung XII, bảng (A) Phụ lục số 01 Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí năm 2015 24 Mục 6, khung I, bảng (B) Phụ lục số 01 Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí năm 2015 25 Khoản 1 Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015 16 danh trong Danh mục phí mà không chủ thể nào ngoài Quốc hội được quy định. Đồng thời, lệ phí được giải thích là “khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này”.26 Khái niệm này khẳng định lệ phí là khoản tiền ấn định trước mà chủ thể sử dụng dịch vụ hành chính công phải trả, lệ phí cũng nằm trong danh mục lệ phí do Quốc hội ấn định. Cụm từ “án phí” và “lệ phí Tòa án” hiện nay được sử dụng gắn liền với hoạt động của Tòa án.
“Án phí” là phí được tính trong tố tụng của Tòa án: “Án phí hình sự, án phí dân sự (tranh chấp dân sự, tranh chấp KD, TM, tranh chấp lao động, tranh chấp hôn nhân và gia đình), án phí hành chính”.27 “Các loại án phí này gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm”.28 Đồng thời, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 đã có nêu các loại lệ phí Tòa án như sau: “1. lệ phí giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27; các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29; khoản 1 và khoản 6 Điều 31; khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự. lệ phí công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam hoặc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài.”29 Nhìn chung, khi tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết một việc thuộc thẩm quyền quản lý của Tòa án phục vụ cho lợi ích của họ thì họ phải trả lệ phí Tòa án. Khoản tiền lệ phí Tòa án này đã được ấn định trước tại mục B.
Danh mục lệ phí 26 Khoản 2 Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015 27 Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 do UBTVQH ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 28 Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 29 Điều 4 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 17 Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bên cạnh đó, án phí, lệ phí Tòa án là khoản tiền phải nộp vào NSNN quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị quyết. Trong vụ án dân sự có các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.30 Nhìn chung, sự phân loại này trên cơ sở tính chất của từng loại tranh chấp.
Các quy định về án phí, lệ phí Tòa án của các loại tranh chấp trong vụ án dân sự nói chung chỉ khác nhau trong quy định về mức thu phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp đó, phù hợp với điều kiện kinh tế của chủ thể của tranh chấp, với mục đích mà Nhà nước hướng tới. Khái niệm về tranh chấp KD, TM đã được nhiều tác giả khái quát trên cơ sở Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại nên tác giả kế thừa không phân tích lại trong luận văn này khi khái quát các khái niệm có liên quan đến tranh chấp KD, TM.31 Chỉ có thể nhận định chung nhất là các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại của các doanh nghiệp và các thương nhân vì mục đích lợi nhuận. Tổng hợp những phân tích về án phí và lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể khái quát một số khái niệm như sau: Khái niệm án phí: Án phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào NSNN theo phán quyết của Tòa án nhằm cơ bản bù đắp chi phí tố tụng Tòa án và mang tính phục vụ khi được Tòa án cung cấp dịch vụ công giải quyết các loại vụ án. Khái niệm lệ phí Tòa án: Lệ phí Tòa án là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào NSNN khi được Tòa án cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp liên quan đến quyền và nghĩa vụ 30 Điều 1 BLTTDS năm 2015 31 Đặng Thị Hòa (2016), “Giải quyết tranh chấp KD, TM từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, mục 1.1 chương 1 trang 6; Trần Tuyết Trinh (2022), “Pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KD, TM theo Luật HG, ĐT tại Tòa án”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại Học Luật – Đại học Huế, mục 1.1 chương 1 trang 4 18 của công dân.