Chương 1 còn nêu ra ý nghĩa của nghiên cứu này và nêu tóm tắt kết cấu nghiên cứu mỗi chương của đề tài. Đây chính là kim chỉ nam nghiên cứu xuyên suốt và thống nhất ở cả Chương 2 và Chương 3 của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm về công nghệ thông tin ngân hàng Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), Công nghệ thông tin (IT) bao gồm phần cứng, phần mềm, mạng lưới và các phương tiện để thu thập, lưu trữ, xử lý, trao đổi và thể hiện thông tin (nguồn: World Bank report, 12/2003) Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 31/2015/TT-NHNN Quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành: Hệ thống công nghệ thông tin là một tập hợp có cấu trúc các trang thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và hệ thống mạng để sản xuất truyền nhận thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số phục vụ cho một hoặc nhiều hoạt động kỹ thuật, nghiệp vụ của đơn vị.
Theo tạp chí Harvard Business Review, Công nghệ thông tin (IT) là việc sử dụng bất kỳ máy tính, kho dữ liệu, mạng lưới và những thiết bị, cơ sở hạ tầng và quá trình khác để tạo, xử lý, lưu trữ, bảo mật và biến đổi các dạng dữ liệu điện tử. Tóm lại, các định nghĩa về công nghệ thông tin của các quốc gia trên thế giới là đa dạng và khác biệt tùy theo mục đích nghiên cứu và áp dụng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy các khái niệm trên đều có sự giống nhau trong các thành phần cấu tạo nên hệ thống công nghệ thông tin là phần cứng và phần mềm. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên thực hiện nghiên cứu công nghệ thông tin ngân hàng bao gồm phần cứng và phần mềm.
Phần cứng là máy móc thiết bị hoặc thiết bị văn phòng trong mục tài sản cố định, phần mềm là phần mềm vi tính trong mục tài sản vô hình của báo cáo tài chính các ngân hàng. Khái niệm và bản chất của hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại: Hiệu quả (efficiency) là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào (như lao động, vốn, máy móc thiết bị …) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng. Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào (inputs) đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó, hay Hiệu quả = Đầu ra/Đầu vào (Coelli, 2005). Theo nhà kinh tế học Farrell (1957), hiệu quả hoạt động (operational efficiency) được chia làm hai phần: (i) Hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả sản xuất (technical efficiency); (ii) Hiệu quả phân phối nguồn lực (allocative efficiency).
Hiệu quả kỹ thuật thể hiện khả năng đơn vị có thể sản xuất tối đa bao nhiêu đầu ra với đầu vào cho trước. Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng các đầu vào theo tỷ lệ tối ưu khi đã biết giá cả của ch ng. Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia thành hai nhóm là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên, chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được.
Ví dụ, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không đồng nghĩa với việc các ngân hàng có quy mô lớn lại có hiệu quả hoạt động lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn. Như vậy, hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối gồm dạng tĩnh (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hoặc dạng nghịch hiệu quả hoạt động = chi phí/kết quả kinh tế) và dạng động hay dạng cận biên (hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí). Những chỉ tiêu này rất thuận 16 tiện trong việc so sánh theo thời gian và không gian ví dụ so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau trong các thời kỳ khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên chỉ tập trung đánh giá hiệu quả kỹ thuật trong quá trình hoạt động và sử dụng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối để đánh giá hiệu quả của các ngân hàng. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại 2. Nhân tố khách quan Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Hay nói cách khác, Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính giữa người gửi tiền và người đầu tư trong nền kinh tế.
Chính vì vậy những biến động, thay đổi của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý, …. đều có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng. Nếu chính trị, xã hội và pháp lý ổn định, kinh tế tăng trưởng cao, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng, đồng thời chất lượng nợ có thể cải thiện vì năng lực tài chính của cá nhân và doanh nghiệp được nâng cao. Ngược lại, khi chính trị, xã hội bất ổn, pháp lý thay đổi liên tục, kinh tế trì trệ thì đây là những nhân tố bất lợi đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại như giảm nhu cầu vay vốn, nợ quá hạn, nợ xấu có nguy cơ gia tăng.
Nhân tố chủ quan Nhân tố chủ quan được bàn đến chính là các nhân tố nội tại của các ngân hàng thương mại như các nhân tố về tình hình tăng trưởng tài sản, năng lực tài chính, khả năng quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, chất lượng dư nợ cho vay, khả năng thanh khoản, …. 17 Tình hình tăng trưởng tài sản Thực tế tại Việt Nam, các ngân hàng có quy mô lớn thường là các ngân hàng có lịch sử phát triển lâu đời, có uy tín trên thị trường và trong ngành vì vậy có thể dễ dàng huy động được nguồn vốn dồi dào, ổn định với chi phí thấp từ các thành phần kinh tế. Mục tiêu hoạt động của các NHTMVN đa phần đều trở thành ngân hàng số một tại Việt Nam. Vì vậy tăng trưởng quy mô tổng tài sản để có thể đạt được mục tiêu mà ban quản trị đề ra và đáp ứng sự phát triển quy mô của nền kinh tế trở thành nhu cầu tất yếu của mỗi ngân hàng.
Tuy nhiên, tốc độ tăng quy mô tài sản được cho là quá nhanh, ảo (xuất phát từ sở hữu chéo) và không gắn liền với vấn đề kiểm soát, quản trị nội bộ mỗi ngân hàng đã dẫn đến chất lượng nợ, chất lượng tài sản kém, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Để cụ thể hóa ảnh hưởng của quy mô tổng tài sản đến hiệu quả hoạt động, nghiên cứu chia các NHTMVN thành hai nhóm ngân hàng NHTMNN và NHTMCP tư nhân. Nhóm NHTMNN gồm 4 ngân hàng BIDV, Agribank, VCB, Vietinbank (trừ Agribank thì 3 ngân hàng còn lại đều đã cổ phần hóa nhưng NHNN vẫn còn nắm quyền chi phối nên những ngân hàng này vẫn được xem là NHTMNN). Nhóm NHTMCP tư nhân gồm các 28 ngân hàng còn lại trong hệ thống (bao gồm 3 ngân hàng được NHNN mua lại như ngân hàng Oceanbank, GPBank và VNCB dù hiện nay thuộc sở hữu của NHNN nhưng trong nghiên cứu này tác giả vẫn xem những ngân hàng này thuộc khối NHTMCP tư nhân vì NHNN mới mua lại 0 đồng từ năm 2015).
18 160% 140% 120% 100% 80% 60% 40% 20% 0% 2014 2015 2016 2017 2018 -20% SIZE NHTMNN (Bình quân) SIZE NHTMCP tư nhân (Bình quân) ROE (Bình quân) Hình 2. Mối quan hệ giữa tốc độ tăng quy mô tài sản và hiệu quả hoạt động Hình 1 cho thấy tốc độ tăng trưởng quy mô tài sản của hai nhóm có sự biến động không lớn qua các năm. Xét tốc độ (%) tăng quy mô tài sản bình quân thì nhóm NHTMCP tư nhân tuy nhỏ hơn rất nhiều năm 2015 nhưng đến cuối năm 2018 lại bứt phát tăng quy mô tài sản với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng quy mô tài sản bình quân của nhóm NHTMNN. Hình 1 cũng cho thấy hiệu quả hoạt động trung bình ngành không biến động cùng chiều với quy mô tăng trưởng tài sản nghĩa là không phải cứ tăng nhanh quy mô thì đi kèm với tăng hiệu quả hoạt động.
Điều này cho thấy để tăng hiệu quả hoạt động, tùy vào giai đoạn và đặc điểm riêng của quy mô nhóm ngân hàng và đặc thù hoạt động của mỗi ngân hàng để đưa ra chính sách tăng trưởng quy mô phù hợp, nhất là trong dài hạn. Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện đầu tiên là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng. Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay, khả năng đầu tư tài chính và trang bị công nghệ, máy móc, ứng dụng phần mềm hiện đại. Thứ 19 hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh.
Thứ ba, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng phản ánh năng lực tài chính. Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng tăng để bù đắp rủi ro, nghĩa là khả năng tài chính đủ lớn để cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ tốt hơn, bền vững hơn và ngược lại. Khả năng quản lý của một ngân hàng là yếu tố năng động nhất.