CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Các công ty thường thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ để xác định và quản lý rủi ro. Thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đã trở thành một vấn đề trọng tâm trong các công ty quản trị vì số lượng lớn các trường hợp gian lận cao trong những năm gần đây (Minelli và cộng sự, 2009; Palermo, 2011; Van der Stede, 2011).
Điều này dẫn đến các nhà Quản trị cũng như Ban giám đốc công ty bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả KSNB. Họ quan tâm tới những nhân tố nào sẽ tác động đến hiệu quả KSNB trong doanh nghiệp. Chính vì điều đó mà trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả kiểm soát nội bộ. Nghiên cứu của Lembi Noorvee (1999): Mục tiêu nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính hiệu quả kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính.
Phân tích tính hiệu quả của hệ thống KSNB về báo cáo tài chính (BCTC) ở ba công ty sản xuất vừa của Estonia. Cả dữ liệu định tính và định lượng đều được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi (dựa trên khuôn mẫu COSO). Sau khi so sánh kết quả tài chính của 3 công ty, công ty có điểm số cao nhất về tính hiệu quả của hệ thống KSNB về BCTC, dường như có mức tăng trưởng nhỏ nhất và khiêm tốn so với hai công ty khác. Từ mối quan hệ đó tác giả đã đưa ra nhiều kết luận: Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nhân sự ít thì mối liên hệ giữa cá nhân với người quản lý dễ dàng hơn.
Đồng thời tính hữu hiệu của hệ thống KSNB không đồng nghĩa với việc thành công về mặt tài chính của công ty do những điểm yếu cơ bản của hệ thống KSNB. Cuối cùng, trong các doanh nghiệp phát triển nhanh, trọng tâm ban đầu của các nhà quản lý là tăng trưởng doanh thu và ít KSNB chặt chẽ. Tuy nhiên, sự thiếu KSNB chắc chắn sẽ trở thành vấn đề trong tương lai. Nghiên cứu của O’Leary (2004): Mục tiêu của nghiên cứu này nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả KSNB.
Bằng nghiên cứu định tính, tác 6 giả đã tiến hành phỏng vấn 94 kiểm toán viên đến từ 5 công ty kiểm toán của Úc về các nhân tố tác động đến tính hiệu quả của hệ thống KSNB. Tính hiệu quả của hệ thống KSNB được O’Leary (2014) đo lường như sau: Tác giả tiến hành khảo sát từ 94 kiểm toán viên và các kiểm toán viên được chọn để khảo sát phải có ít nhất từ 18 tháng kinh nghiệm kiểm toán thực tế trở lên. Các đối tượng khảo sát thuộc năm công ty kiểm toán của Úc, vì tất cả các đối tượng thực hiện khảo sát đều thuộc công ty kiểm toán của Úc và họ thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán của Úc. Họ được yêu cầu tóm tắt phương pháp đánh giá công ty của họ bằng cách đánh giá ba thành phần KSNB được xác định trong KSNB của Úc và sau đó đưa ra đánh giá tổng thể.
Tuy nhiên, cách họ đưa ra đánh giá cho một thành phần bằng phương pháp công ty có thể hoàn toàn khác nhau. Họ có thể xem xét một số hoặc tất cả các yếu tố được liệt kê trong ma trận ICE hoặc họ có thể xem xét các yếu tố riêng lẻ hoặc tổng cộng trước khi đi đến xếp hạng cuối cùng. Sau đó tác giả tóm tắt kết quả của các cuộc thảo luận của họ bằng cách sử dụng quy trình hiện tại của công ty. Mỗi công ty có các kỹ thuật về KSNB khác nhau, các ràng buộc về bảo mật khiến các nhà nghiên cứu không thể có được mô tả chính xác về cách đánh giá KSNB.
Tuy nhiên cả năm công ty được khảo sát đều thừa nhận rằng họ đã áp dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro kinh doanh cho các quy trình đánh giá của họ và tập trung vào các yếu tố trong môi trường kiểm soát như là một phần quan trọng của đánh giá. Nghiên cứu của Annukka Jokipii (2010): Nghiên cứu hướng đến mục tiêu chính yếu là tìm hiểu tác động của các nhân tố như chiến lược, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tổ chức và sự thay đổi của môi trường đến hiệu quả của KSNB. Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu 741 công ty có quy mô vừa và lớn ở Phần Lan. Nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc lý thuyết ngẫu nhiên (contingency theory) như chiến lược, quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, sự thay đổi của môi trường (các biến độc lập của mô hình), cấu trúc kiểm soát nội bộ (biến trung gian của mô hình) và sự hiệu quả của kiểm soát nội bộ (biến phụ thuộc của mô hình).
Trên cơ sở nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát thang đo likert 7 điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy để đo lường tính 7 hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, phải dựa trên việc đạt được các mục tiêu của nó. Bao gồm hiệu quả của hoạt động, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định. Đồng thời, sự hiện diện đầy đủ và thực hiện đúng chức năng của năm thành phần liên quan đến từng loại mục tiêu của tổ chức sẽ đảm bảo hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với quan hệ trực tiếp giữa các nhân tố thuộc lý thuyết ngẫu nhiên đến hiệu quả của KSNB thì chiến lược và sự thay đổi của môi trường là các nhân tố tác động có mức ý nghĩa thống kê đến hiệu quả của KSNB. Mô hình nghiên cứu được minh họa tại Sơ đồ 1. Mô hình nghiên cứu của Jokipii (2010) Nghiên cứu Kanyamin Wittaypoom & Sumalee Limsuwan (2012) tiến hành nghiên cứu qua việc thực hiện khảo sát, thu thập dữ liệu của một trăm hai mươi bốn mẫu, bảng khảo sát được trả lời bởi các trưởng kiểm toán viên điều hành của các công ty niêm yết tại Thái Lan. Mục tiêu nghiên cứu này là kiểm tra tác động của hiệu quả kiểm soát nội bộ về độ tin cậy của báo cáo tài chính và mối quan hệ giữa các biến tiền đề: Hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, khả năng giao tiếp trong nội bộ, tính đầy đủ theo dõi liên tục và hiệu quả kiểm soát nội bộ.
8 Kết quả cho thấy hiệu quả của kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tích cực đáng kể đến độ tin cậy của báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, truyền thông nội bộ, và tính đầy đủ theo dõi liên tục ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Mặt khác, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng một nền văn hóa đạo đức ôn hòa cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, tiềm năng của truyền thông bên trong tổ chức, theo dõi đầy đủ liên tục và hiệu quả kiểm soát nội bộ, giữa hiệu quả kiểm soát nội bộ và độ tin cậy của báo cáo tài chính mối quan hệ tương ứng. Nghiên cứu của Anthony Wood, Natalya Brathwaite (2013): Đã nghiên cứu mục đích nghiên cứu là để kiểm tra tính đầy đủ, phát hiện và phòng ngừa gian lận của KSNB tại một siêu thị hàng đầu ở Barbadian có liên quan đến hoạt động tiền mặt của công ty.
Bằng phương pháp thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi, được thực hiện bởi kế toán trưởng vào tháng 03/2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các thủ tục KSNB được sử dụng trong kinh doanh có hiệu quả trong việc bảo vệ tiền mặt, việc phát hiện và ngăn chặn gian lận của nhân viên. Tuy nhiên, trong tương lai siêu thị cần tăng cường các hệ thống KSNB với cơ chế và một chương trình hỗ trợ nhân viên. Hơn nữa, quyết định của DN để thưởng cho nhân viên có đạo đức của mình để thúc đẩy tinh thần của người lao động và mang đến lòng trung thành lớn hơn.
Tuy nhiên bài nghiên cứu chỉ nghiên cứu trong hoạt động tiền mặt công ty chưa nghiên cứu được hết các hoạt động như hàng hóa, tài sản. Các nghiên cứu tại Việt Nam. Tại Việt Nam, nghiên cứu về tính hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị cụ thể đã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu như: Nghiên cứu Phạm Bính Ngọ (2011): Từ lý luận cơ bản về hệ thống KSNB và đặc thù quản lý tài chính trong lĩnh vực quốc phòng, tác giả đề xuất mô hình tổ chức hệ thống KSNB áp dụng trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Kết quả nghiên cứu tác giả đã khẳng định trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam tồn tại dấu hiệu cơ bản của hệ thống KSNB với ba bộ phận 9 cấu thành là: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát.
Chưa tổ chức đầy đủ và chặt chẽ do thiếu cơ sở pháp lý và năng lực thực hiện liên quan đến việc quản lý và kiểm soát các nghiệp vụ tài chính phù hợp với đặc thù hoạt động của Bộ Quốc Phòng. Nghiên cứu Nguyễn Hữu Bình (2014): Nghiên cứu được tiến hành tại các doanh nghiệp ở địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh. Tác giả sử dụng phương pháp tổng kết với so sánh, Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính. Qua nghiên cứu thực trạng tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, tác giả đã xây dựng thang đo cho các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả và xác định được ảnh hưởng của những thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán và xác định mức độ ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán.
Nghiên cứu Võ Thu Phụng (2016): Mục tiêu của nghiên cứu xác định các nhân tố tác động đến hữu hiệu KSNB và đo lường mức tác động của các nhân tố đó đến tính hiệu quả KSNB. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp định lượng và thực hiện nghiên cứu tại tập đoàn Điện Lực Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố thuộc KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động của tập đoàn Điện Lực Việt Nam. Trong đó, nhân tố vai trò và quyền hạn của Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng nhất.