Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN (2010 - 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế tư nhân 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế tư nhân * Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội Điều kiện tự nhiên: Về vị trí địa lý: thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt hơn các địa phương khác trong cả nước. Hà Nội là trái tim của cả nước, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế.
Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở phía Tây Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với 8 tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Phú Thọ, Hà Nam và Hoà Bình. Năm 2008, sau khi thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH 12 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô, diện tích Hà Nội là 3348,5 km2; dân số 6.000 người [10, tr. Giao thông từ Hà Nội đi các tỉnh, thành phố khác rất thuận tiện, dễ dàng bằng đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không. Ngoài ra, Hà Nội còn có vị trí quan trọng trên hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng.
Đây là các điều kiện thuận lợi để Hà Nội phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán với các tỉnh, thành phố và với các nước trên thế giới. 12 Về địa hình: Hà Nội vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, trong đó đồng bằng chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên. Khu vực nội thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước sông Hồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng Thành phố trung bình 4 - 5m. Hà Nội có nhiều hồ, đầm, thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển thủy sản và du lịch.
Vùng đồi núi thấp và trung bình ở phía Bắc Hà Nội thuận lợi cho xây dựng, phát triển công nghiệp, lâm nghiệp và tổ chức nhiều loại hình du lịch. Về thủy văn và tài nguyên nước: Hà Nội được hình thành từ châu thổ sông Hồng, nét đặc trưng của vùng địa lí Hà Nội là “Thành phố sông hồ” hay “Thành phố trong sông”. Hà Nội có 7 sông chảy qua, trong đó đoạn sông Hồng dài tới 163km. Các con sông này có lượng nước khổng lồ chảy qua, kèm theo đó là phù sa khổng lồ bồi đắp - đây là một nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng mà Hà Nội đã và đang khai thác sử dụng suốt hàng ngàn năm qua.
Hà Nội có tới hàng trăm hồ, đầm lớn nhỏ với diện tích khoảng 3.600 ha, được phân bổ ở khắp các nơi như hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Quảng Bá, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn, Linh Đàm, Yên Sở, Giảng Võ, Đồng Mô, Suối Hai. Hồ, đầm của Hà Nội không những là một kho nước lớn mà còn tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh đẹp để các nhà đầu tư phát triển các chuỗi dịch vụ nhà hàng ăn uống, du lịch, giải trí và nghỉ dưỡng. Về tài nguyên đất: diện tích đất nông nghiệp 187.151,5 ha chiếm 56,3%; đất phi nông nghiệp 137.693 ha, chiếm 41,4%; đất chưa sử dụng 7607,9 ha, chiếm 2,3%. Trong tổng số đất nông nghiệp, đất trồng cây hằng năm chiếm 40,3%; đất trồng cây lâu năm chiếm 5%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 7,3%; đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm 3,2%.
Như vậy, với vị trí ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ và được ưu đãi về các điều kiện tự nhiên, Hà Nội đã và đang có rất nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển KTTN nói riêng. 13 Tuy nhiên, thảm họa thiên nhiên và sự biến đổi khí hậu là những nhân tố tác động mạnh đến quá trình phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô. Do bề mặt địa hình của Hà Nội thấp, nhất là phần phía Nam nên việc tiêu thoát tự nhiên ra các hệ thống sông rất khó khăn. Vào mùa mưa, hiện tượng, lũ lụt và úng ngập khi trời mưa to, kéo dài thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và của.
Trận lụt lịch sử vào tháng 11/2008, lượng mưa trung bình ở Hà Nội là 400 - 600 mm, trong đó có một số nơi như Thanh Oai 988 mm, Hà Đông 830 mm, Chương Mỹ 727 mm… đã làm cho nhiều tuyến phố ở Thủ đô chìm dưới nước sâu, ước tính thiệt hại là 3. Ngoài ra, việc xói mòn tự nhiên và ảnh hưởng của các hoạt động nhân sinh làm cho hiện tượng bị xói lở ở hai bên bờ sông Hồng xảy ra thường xuyên, gây ảnh hưởng không nhỏ tới các công trình và hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sinh hoạt của người dân. Điều kiện kinh tế - xã hội: Về dân số và nguồn nhân lực: Hà Nội là một thành phố lớn và đông dân, dân số tăng nhanh và mật độ dân số cao. Tính đến hết năm 2009, dân số Hà Nội là 6.909 người, trong đó tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (15 - 64) chiếm 69,23% và tỷ trọng dân số phụ thuộc là 30,76%.
Đây là cơ hội lớn để Hà Nội tận dụng cơ cấu dân số “vàng” phục vụ cho phát triển KT - XH Thủ đô [10, tr. Hà Nội là nơi có đông đảo các nhà khoa học, cán bộ có trình độ chuyên môn cao trong nhiều lĩnh vực, với hàng trăm viện nghiên cứu và nhiều trường đại học, cao đẳng nên chất lượng lao động của Hà Nội luôn ở vị trí cao nhất so với cả nước. Tính đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hà Nội đạt 44%, cao hơn so với mức trung bình của cả nước (40%). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết tại Hà Nội là 99,2% cao hơn so với toàn quốc là 95,8% và một số thành phố trực thuộc Trung ương như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng: 99%, Đà Nẵng: 98,7%, Cần Thơ: 96,4% [10, tr.
Với quy mô dân số lớn và nguồn nhân lực đã qua đào tạo dồi dào sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và KTTN nói riêng. 14 Tuy nhiên, đây cũng là áp lực không hề nhỏ đặc biệt là về cơ sở hạ tầng của Hà Nội. Về cơ sở hạ tầng: sau khi mở rộng địa giới hành chính và được Thủ tướng phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô vào năm 2011, cơ sở hạ tầng Hà Nội đã có bước phát triển mạnh mẽ tạo đà cho kinh tế phát triển. Đặc biệt, hạ tầng giao thông của Thủ đô trong những năm 2010 - 2015 có những bước phát triển vượt bậc với hàng loạt công trình, dự án trọng điểm được hoàn thành và đưa vào khai thác như đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình, Hà Nội - Thái Nguyên, Quốc lộ 5 kéo dài, vành đai 3 trên cao; các cầu Vĩnh Thịnh, Đông Trù, Nhật Tân.
Những công trình giao thông trên đã trực tiếp giảm ùn tắc, tai nạn giao thông và góp phần phát triển KT - XH cho Thủ đô. Bên cạnh đó, Hà Nội còn có nhiều các khu đô thị hiện đại đã tạo nên diện mạo mới cho Thủ đô phát triển. Như vậy, với vị thế là Thủ đô, Hà Nội có nhiều thuận lợi so với các địa phương khác trong cả nước về phát triển kinh tế, trong đó ngành công nghiệp và dịch vụ có nhiều thế mạnh nhất - đây là cơ hội cho các DNTN, nhà đầu tư mở rộng thị trường kinh doanh góp phần phát triển KT - XH của Thủ đô. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, điều kiện tự nhiên, KT - XH của thành phố Hà Nội cũng bộc lộ những khó khăn cho phát triển KTTN như: hạ tầng giao thông, nhất là khu vực nội thành còn lạc hậu, thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông; phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị chậm hơn gia tăng dân số, chậm hơn mở rộng không gian đô thị; diện tích đô thị cùng với dân số đô thị tăng nhanh, nhưng hạ tầng kỹ thuật đô thị như hệ thống cấp nước, thoát nước, giao thông, năng lượng.
đều lạc hậu, chắp vá, được đầu tư phát triển chậm hơn, nên không đáp ứng yêu cầu dịch vụ môi trường, làm ô nhiễm môi trường; lao động qua đào tạo ở mức cao nhưng lại thiếu thợ lành nghề, chuyên gia giỏi, các doanh nghiệp tài năng. * Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội trước năm 2010 Ưu điểm: 15 Sau khi BCH Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 về “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, Thành ủy và chính quyền Thành phố đã chủ động xây dựng các chương trình và kế hoạch cụ thể để thực hiện, tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát triển KTTN. Việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được triển khai nhanh, đồng bộ, toàn diện, tạo điều kiện sản xuất, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho KTTN phát triển. Vì thế, KTTN đã có bước phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển KT - XH của Thủ đô: Giai đoạn 2006 - 2010 chứng kiến sự phát triển, gia tăng mạnh mẽ số lượng các DNTN.
Số lượng các doanh nghiệp đăng ký thành lập và đi vào hoạt động tăng đột biến so với giai đoạn trước. Với tốc độ tăng trưởng nhanh (mỗi năm có thêm 15.361 doanh nghiệp hoạt động), năm 2006 toàn Thành phố có 33.555 doanh nghiệp thì đến hết năm 2010 Hà Nội có 95 nghìn doanh nghiệp, tăng gấp 2,8 lần so với năm 2006 [19, tr. Tính đến năm 2009, KTTN ở Hà Nội phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong nhiều ngành dịch vụ, đóng góp trên 20% GDP và trên 10% giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố; chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu của Thành phố, góp phần quan trọng giải quyết nhiều việc làm cho nhiều người [59; tr.