CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN 1.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thanh khoản Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản. Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng được các tiêu chí sau: − Có sẵn số lượng để mua hoặc bán − Có sẵn thị trường giao dịch − Sẵn sàng để giao dịch − Giá cả (chi phí giao dịch hợp lý) Dưới góc độ ngân hàng: Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác (Nguyễn Văn Tiến, 2011) Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì thanh khoản là khả năng của ngân hàng để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM đó là tính chất thời điểm. Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải chi phí.
Tuy nhiên, nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Như vậy, một ngân hàng bị thiếu thanh khoản trong khi vẫn còn khả năng thanh toán trong chừng mực hẹp và không kéo dài.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng Một cách tổng quát, các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng bao gồm các nhân tố sau: Sự tiếp cận thị trường tài chính Tất cả ngân hàng đều có một mức độ tiếp cận thị trường tài chính. Tuy nhiên những ngân hàng nhỏ có khuynh hướng ít tiếp cận thị trường tài chính hơn những ngân hàng lớn. Một lý do là vì những ngân hàng này ít có danh tiếng hơn trên thị trường.
Mặc dù lịch trình kinh doanh của những ngân hàng nhỏ có thể không khác với ngân -2- hàng lớn nhưng các ngân hàng này phải tốn chi phí phát triển thông tin về lịch trình kinh doanh và làm cho thông tin về lịch trình kinh doanh của mình được các ngân hàng khác biết đến trên thị trường. Nếu nguồn vốn cần huy động trên thị trường này không lớn thì chi phí này là rất cao. Trong đó có một phần chi phí huy động vốn là cố định vì vậy chi phí cho mỗi đồng vốn nhận được sẽ giảm xuống khi số vốn huy động tăng lên. Điều này làm cho những giao dịch lớn trở nên ít tốn kém hơn là đối với những giao dịch nhỏ Tình hình tài chính Thu nhập và chất lượng tài sản kém có ảnh hưởng tiêu cực đối với thanh khoản của ngân hàng.
Vì thu nhập đại diện cho dòng tiền giúp cho ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản, thu nhập thấp đồng nghĩa với việc ngân hàng có ít tiền mặt sẵn có hơn. Chất lượng tài sản thấp ví dụ như nợ quá hạn (non-performing loan) làm giảm thu nhập và ràng buộc ngân hàng với tài sản có tính khả mại kém. Hơn nữa, thu nhập thấp và chất lượng tài sản kém dẫn đến câu hỏi về khả năng thanh toán và có thể làm cho những người cho vay tiềm năng của ngân hàng không sẵn sàng cung ứng vốn. Cấu trúc bảng cân đối kế toán Ngân hàng điều chỉnh việc nắm giữ tài sản và các khoản nợ để quản lý thanh khoản.
Những quyết định này được phản ánh trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Vì vậy, nó cho thấy việc ngân hàng cấu trúc bảng cân đối có thể gây ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Cấu trúc kỳ hạn của các khoản mục tài sản trong bảng cân đối kế toán ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng. Những tài sản có kỳ hạn ngắn có tính thanh khoản cao hơn những tài sản có kỳ hạn dài.
Vì những người nắm giữ tài sản này sẽ nhận được vốn gốc trước sự thay đổi của thị trường (như lãi suất, lạm phát…) có thể gây ảnh hưởng đến vốn gốc hoặc thu nhập. Kết quả là ngân hàng trở nên kém thanh khoản hơn nếu sử dụng vốn khi cho vay và đầu tư dài hạn. Một yếu tố khác ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng là sự đa dạng trong một khoản mục tài sản. Nếu ngân hàng tập trung vào một đối tượng khách hàng, một -3- nhóm khách hàng hay một lĩnh vực cho vay thì nếu các đối tượng này gặp khó khăn sẽ gây ra tỷ lệ nợ xấu cao gây ảnh hưởng xấu đến thanh khoản của ngân hàng.
Trong nguồn vốn của ngân hàng thì nguồn tiền gửi thường xuyên bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm mang tính ổn định cao. Nếu ngân hàng có tỷ trọng nguồn vốn này không lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh khoản. Hay ngân hàng nếu như có cấu trúc nguồn vốn kém đa dạng, phụ thuộc vào một khu vực địa lý nhất định, một công cụ huy động vốn nhất định hay kỳ hạn, đối tượng khách hàng, đồng tiền nhất định sẽ không được đảm bảo về thanh khoản trong mọi điều kiện của thị trường. Một ngân hàng được cho là thanh khoản hơn khi tài sản và nguồn vốn tập trung vào các mục gần trên đầu của bảng cân đối kế toán.
Những ngân hàng có thanh khoản cao nhất, có thể dễ dàng đáp ứng những nhu cầu bất ngờ về vốn là ngân hàng nắm giữ tỷ lệ tiền mặt cao và dễ dàng có tiền mặt thông qua nguồn tiền gửi thường xuyên (core deposits). Tuy nhiên những ngân hàng có lợi nhuận không cao vì tiền mặt là tài sản không sinh lời. Đây cũng là thử thách cho nhà quản lý ngân hàng phải duy trì một mức độ thanh khoản thận trọng trong khi phải thực hiện cấu trúc bảng cân đối để tìm kiếm lợi nhuận. Các cam kết ngoại bảng Ngoài ra, có hai yếu tố khác ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng nhưng không được phản ánh trực tiếp trên bảng cân đối.
Thứ nhất có là sự khác biệt về thời hạn của dòng tiền vào của tài sản và dòng tiền tiền ra của ngân hàng có nguồn vốn thặng dư hoặc không đủ nếu như không được hoạch định một cách cẩn thận. Nguồn vốn thì liên tục đi vào và đi ra khỏi ngân hàng nhưng rất hiếm khi dòng vốn vào và ra của ngân hàng bằng nhau và kết quả là sự khác biệt về thời hạn của các khoản mục trong bảng cân đối gây ra khó khăn thanh khoản cho ngân hàng. Thứ hai các hoạt động ngoại bảng cũng có thể là nguồn thanh khoản cũng có thể làm tiêu hao dự trữ thanh khoản của ngân hàng. Ví dụ một ngân hàng có nhiều cam kết tín dụng hay hạn mức tín dụng mà khách hàng chưa sử dụng đòi hỏi ngân hàng phải đáp ứng trong thời gian ngắn.
Mặt khác ngân hàng cũng có những hạn mức tín -4- dụng với các ngân hàng đại lý là nguồn cung thanh khoản của ngân hàng Tuy nhiên sự ổn định của hạn mức tín dụng này phụ thuộc vào tình hình tài chính và trạng thái vốn của ngân hàng.2 Rủi ro thanh khoản ngân hàng 1.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp. (Nguyễn Văn Tiến) Rủi ro thanh khoản là rủi ro của ngân hàng khi ngân hàng không có đủ các nguồn tài trợ chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ khi đến hạn, hoặc là phải sử dụng những nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán (Vento) Như vậy, rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra khi ngân hàng không có đủ lượng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu tức thì về vốn để đáp ứng các nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết với khách hàng. Trong trường hợp đó, ngân hàng sẽ phải tăng vốn bằng cách chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc vay mượn trên thị trường để có đủ vốn thực hiện các yêu cầu thanh toán, do vậy ngân hàng có thể rơi vào tình trạng thiếu vốn thanh toán hoặc phải chịu mức chi phí cao để vay được vốn.2 Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản Nhiều nhà phân tích tài chính cho rằng có một phương pháp tổng hợp để nhận biết khả năng thanh khoản của ngân hàng. Phương pháp này tập trung vào nguyên lý “kỷ luật thị trường tài chính”.
Ví dụ như cân nhắc câu hỏi: Ngân hàng thực sự có đầy đủ tài sản dự trữ thanh khoản? Câu trả lời phụ thuộc vào vị thế của ngân hàng trên thị trường, hay sự đánh giá của thị trường là như thế nào. Vị thế của ngân hàng trên thị trường được phản ánh thông qua những tín hiệu − Lòng tin của dân chúng. Có bằng chứng nào cho thấy ngân hàng đang đánh mất dần người gửi tiền, bởi vì những cá nhân và tổ chức lo ngại rằng ngân hàng sẽ thiếu tiền hoặc không thể thanh toán cho các khoản nợ đến hạn? -5- − Sự biến động giá cổ phiếu của ngân hàng. Thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm, bởi vì những nhà đầu tư nhận thấy rằng ngân hàng đang đứng trước một cuộc khủng hoản thanh khoản? − Áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn thị trường.
Có bằng chứng rằng ngân hàng áp dụng mức lãi suất huy động (tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu) và chấp nhận mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất thị trường một cách bất thường? Nói cách khác, thị trường đòi hỏi phần thưởng chấp nhận rủi ro dưới hình thức áp dụng chi phí vay vốn cao, bởi vì ngân hàng được xem là đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoản thanh khoản? − Chịu lỗ khi bán tài sản. Ngân hàng có phải chịu sức ép bán tài sản một cách vội vã và sẵn sàng chịu lỗ lớn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản? Việc chuyển hóa các tài sản của ngân hàng là sự kiện xảy ra thường xuyên hay ít khi? − Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng có khả năng đáp ứng đúng hạn và đầy đủ các cam kết tín dụng? nhu cầu xin vay của những khách hàng có hệ số tín nhiệm cao có được giải quyết? hay áp lực về thanh khoản khiến ngân hàng phải từ chối một số yêu cầu vốn khả thi? − Ngân hàng có buộc phải vay NHNN với khối lượng lớn và thường xuyên hơn? NHNN đã bắt đầu đặt câu hỏi về những khoản vay của ngân hàng?