Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG HOP TAC CHO TRE 5 - 6 TUGI THONG QUA HOAT DONG KHAM PHA MOI TRUONG XUNG QUANH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khải niệm Rỹ năng Theo TS. Vũ Dũng: “Kỹ năng là năng lực vận đụng có kết quả những trí thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội đỄ hành động những nhiệm vụ tương ứng.
Các nhà tâm lý học Việt Nam như PGS.TS Ngô Công Hoàn, PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết, GS Nguyễn Quang Uẩn,. cho rằng kỹ năng là một mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả. KY nang có thể hiểu như sau: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động, công việc nào đó trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dung những trí thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điễu kiện nhất định”. Như vậy, kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực cá nhân.2, Khải niệm hợp tác Con người không thể sống ngoài xã hội mà phải dựa vào nhau, phải phối hợp với nhau để cùng tồn tại và phát triển thành con người xã hội.
Mặc khác, con người không chỉ phụ thuộc chịu ảnh hưởng trong mối quan hệ xã hội mà còn tác động trở lại đến mới quan hệ xã hội, giúp nó trở nên sinh động và phong phú hơn. Như vậy, bát kỳ mỗi một cá nhân nào cũng có một nhóm xã hội là do xã hội quy định và có vị trí nhất định trong nhóm. Dựa trên kết quả phân tích, “Hợp (ác là quá trình tương tác xã hội, trong đó con người chung sức HỖ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích chung”. Khái niệm Kỹ năng hợp tác Kỹ năng hợp tác có thé hiểu như sau: “Kỹ năng hợp tác là khả năng tương tác cùng thực hiện có hiệu quả một hành động, một công việc nào đó của con người dựa trên những trị thúc và vốn kinh nghiệm đã có trong điều kiện nhất định”.
Khải niệm môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên là môi trường sẵn có, không phải do con người tạo ra, bao gồm tất cả những vật thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên trên Trái 'Đắt hoặc một vùng trên Trai Dat. Khải niệm khám phá môi trường tự nhiên Khám phá môi trường tự nhiên là việc giáo viên tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật hiện tượng của giới vô sinh và hữu sinh 1. Khái niệm hình thành Kỹ năng hợp tác cho trẻ thông qua hoạt động Khdm phá môi trường tự nhiên Hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên là trẻ được cùng nhau làm việc, thảo luận, bàn bạc theo nhóm những vấn đề liên quan đến sự vật hiện tượng của giới vô sinh và hữu sinh. Sự phát triển Kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo Vừa chào đời, trẻ có những hành động như: Mút, khóc, mỉm cười, rúc đầu vào ngực mẹ (vì muốn tìm vú và muốn áp sát vào mẹ để được ôm ấp vỗ về), thể hiện sự gắn bó mẹ con.
Quan hệ mẹ - con qua xúc giác là quan trọng bậc nhất và xuất hiện sớm nhất. Sau khi sinh, cả mẹ và con đều rất nhạy cảm với sự tiếp xúc gần gũi đa thịt, do nhu cầu gắn bó mẫu tử nên đều phát ra tín hiệu cho nhau. Dù còn rất non nớt, trẻ đã cảm nhận những biểu cảm của người mẹ và phản ứng lại bằng các cử động như khi được mẹ ôm ấp nâng niu, vỗ về, trẻ tỏ ra đễ chịu, an toàn, mỉm cười, vặn mình. Từ những nhu cầu tiếp xúc về thân thể với người lớn, ở trẻ xuất hiện nhu cầu mới đó là nhu cầu giao tiếp trực tiếp với mẹ và người lớn xung quanh.
Trong quá trình giao tiếp và hoạt động với người lớn, trẻ tiếp nhận được các sắc thái tỉnh cảm. khác nhau của người lớn được biểu hiện qua nét mặt, giọng nói, điệu bộ, cử chỉ. từ đó, trẻ cũng biết thực hiện những sắc thái tình cảm khác nhau của mình bằng những biểu hiện bên ngoài. Cùng với nhu cầu giao tiếp trực tiếp với người lớn dan dan 6 trẻ bắt đầu xuất hiện một nhu cầu mới, đó là nhu cầu tiếp xúc với đồ vật.
Nó là bậc thang đầu tiên để dần dần trẻ có thể nắm những hình thức hành vi của con người. Trong đó, người lớn chính là khâu trung gian giữa trẻ với đỗ vật; là người hướng dẫn, điều khiễn, là thang đỡ, điểm tựa dẫn dắt trẻ đến với thế giới đồ vật. Nhờ vào quá trình hoạt động với đồ vật mà kỹ năng hợp tác của trẻ được hình thành và phát triển. "Trẻ 3 — 4 tuổi: Nhu cầu được tham gia vào các hoạt động tập thể của trẻ đã có những chuyển biến cơ bản.
Trẻ rất thích được cùng các bạn vui chơi, cùng bạn khám phá thế giới xung quanh mới lạ. Tuy nhu cầu được chơi, được khám phá môi trường xung quanh với bạn rất lớn nhưng những hành động của trẻ vẫn còn mang tính cá nhân, chưa biết cách chia sẻ, giúp đố bạn cùng chơi, cùng khám phá, do đó các mối quan hệ chơi, khám phá của trẻ rất đễ bị phá vỡ. Cuối 3 tuổi Khả năng phối hợp hành động của trẻ với các thành viên khác trong nhóm hoạt động được thể hiện một cách rõ nét hơn như: trò chuyện và thảo luận với nhau để tìm hiểu cái sì, yêu cầu bạn làm thế này hay làm như thế kia cho phủ hợp với hành động của mình và của nhóm. Trẻ 4 — 5 tuổi, sự hợp tác của trẻ được thiết lập một cách rõ nét hơn.
Trẻ đã biết cách trao đổi, thỏa thuận với nhau cùng thực hiện các hành động có kết quả. Tuy nhiên, các hoạt động chung của trẻ vẫn còn thường xảy ra các xung đột, nhưng trẻ đã bắt đầu biết cùng nhau thảo luận, đàm phán, hòa hiệp, nhường nhịn để duy trì các mối quan hệ. Với sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ đã biết liên kết hành động của mình với hành động của bạn, biết thỏa hiệp, nhường nhịn nhau trong các hoạt động chung. Đổi với trẻ 5 — 6 tuổi, các kỹ năng hợp tác được thể hiện rất rố trong tất cả các hoạt động của trẻ.
Trẻ đã biết quan tâm đến hành động của bạn, bất đầu biết điều chỉnh các hành động của mình phủ hợp với yêu cầu chung của nhóm, khi có mâu thuẫn xảy ra trẻ cũng đã biết tìm cách giải quyết để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Ở tuổi này, ý thức về bản thân của trẻ đã được phát triển, bước đầu có khả năng tự khẳng định mình trong tập thể. Ý thức tập thể của trẻ cũng đang được hình thành, trẻ cũng đã biết cùng hành động với nhau, đặc biệt trẻ đã biết đưa ra các nhận xét, ý kiến về hành động cũng như kết quả hoạt động của chính mình và các bạn trong lớp. Với những nội dung và nhiệm vụ nhận thức, cách thức tổ chức, cách đánh giá mới là cơ hội để giúp trẻ duy trì hoạt động và thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau bền vững và hiệu quả hơn.
Ở lứa tuổi này, sự trao đổi, thỏa thuận và thiết lập các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm hoạt động đã trở nên thuần thục, sự phối hợp hành động cũng trở nên nhịp nhàng hơn. Trẻ đã biết cùng nhau phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm. Hợp tác là một trong những kỹ năng rất cần thiết cho con người mới, đó là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển toàn diện nhân cách của một con người. Vì vậy, ngay từ lứa tuổi mầm non, ching ta cin phải quan tâm đến việc kích thích nhu cầu và hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng hợp tác của trẻ 1. Sự trưởng thành của bản thân trẻ Sự lớn lên và phát triển của trẻ là một quá trình diễn ra liên tục theo một trình tự và quy luật định sẵn. Trẻ càng lớn thi méi trường hoạt động của trẻ càng được mở rộng, trẻ không chỉ tiếp xúc với những người thân trong gia đình mà còn được tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau, có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những người xung quanh, đặc biệt là được chơi, hoạt động với bạn. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau fhì vốn kinh nghiệm của trẻ cũng được tăng lên, đồng thời trẻ cũng trở nên mạnh đạn, tự tin hơn.
Các nhà tâm lý học cho rằng, sự tự ý thức về bản thân đóng vai trò điều chỉnh là điều kiện quan trọng trong hành vi của con người. Nó quyết định đến thái độ của cá nhân đối với bản thân và những người xung quanh. Khi trẻ biết tựý thức về bản thân thì trẻ không chỉ có khả năng tự đánh giá bản thân mà còn biết đánh giá người khác để nhận thức được cái đúng cái sai, cái hay cái đở. Tử đó, trẻ biết điều chỉnh hành vi của mình cho phủ hợp với những quy tắc và yêu cầu chung.
Như vậy, trẻ càng có nhiễu cơ hội được trải nghiệm xã hội thì càng có nhiều khả năng hợp tác. Hững thú đối với công vi chưng Hứng thú với công việc chung có ảnh hưởng rất lớn đến sự hợp tác của trẻ, bởi khi có hứng thú thì trẻ sẽ hợp tác với nhau đễ dàng hơn. Hứng thú với công việc chung càng cao thì trẻ càng hợp tác với nhau. Trong hoạt động chung, nếu thiếu hứng thú thì mối quan hệ hợp tác của trẻ sé lỏng lẻo, không bền vững và việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Hứng thú với công việc chung làm biến đổi một cách đáng kể mối quan hệ giữa các trẻ với nhau, trẻ trở nên thân thiện, dễ đồng cảm và dễ chia sẻ với nhau hơn. Đồng thời, hứng thú sẽ làm giảm sự căng thẳng, mệt nhọc và nó mở ra con đường, dẫn tới sự hợp tác, nó giúp cho trẻ tham gia vào hoạt động hợp tác một cách thỏa mái, say mê và hiệu quả hơn. Thậm chí, hứng thú với công việc chung có thể làm thay đổi cả kết quả hoạt động của trẻ. Để duy trì, điều khiển được hứng thú với công việc chung, giáo viên cần xây dung mục tiêu, nội dung, phương pháp, biện pháp, phương tiện dạy học phù hợp cho từng hoạt động.