Chương 1: Tổng quan đề tài Chương này tác giả trình bày lý do thực hiện đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Đóng góp của đề tài; Kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở khoa học Chương này tác giả nêu những khái niêm liên quan tới đề tài tác giả thực hiện, lược khảo các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết của nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 5 Chương này tác giả trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, các bước nghiên cứu để thực hiện nghiên cứu luận văn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Dựa vào kết quả khảo sát và xử lý dữ liệu khảo sát trên phần mềm SPSS 23.0 tác giả thực hiện phân tích, biện luận và thảo luận kết quả nghiên cứu của luận văn.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này tác giả trình bày kết luận của nghiên cứu, so sánh với các nghiên cứu trước đó và đề xuất hàm ý quản trị, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo cho các tác giả sau khi thực hiện nghiên cứu cùng chủ đề với đề tài của tác giả. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC 2.1 Lý thuyết về dịch vụ ngân hàng số 2.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng số Theo Moeckel (2013) thì “DVNHS (digital banking) luôn hướng tới việc đổi mới và nâng cấp những tiêu chuẩn DVNH trực tuyến và di động thông qua việc kết hợp đồng thời những công nghệ số (CNS) giống như một công cụ để phân tích, tương tác qua mạng xã hội, một số biện pháp thanh toán mới, CNDĐ cũng như quan tâm hơn tới trải nghiệm của người dùng”. Theo nghiên cứu của Chris (2014) “thì NHS thực chất là các hoat động diễn ra trong NH mà lúc này, phần lớn các hoạt động đều thông qua nền tảng số và dữ liệu điện tử cũng như CNS, nó là giá trị cốt lõi của HĐNH”. Nhận định của PappuRajan and Saranya (2018) lại cho rằng, “DVNHS là một thuật ngữ nói về hoạt động đáp ứng dịch vụ phụ thuộc vào sự giúp đỡ của công nghệ kỹ thuật số, internet và ứng dụng di động trong cuộc cách mạng đổi mới.
Điều này giúp tạo ra những đặc tính mới để KH có thể sử dụng, thời gian cũng như không gian giao dịch không bị giới hạn. Hoạt động cung ứng DVNHS đạt mức độ nhanh hơn dịch vụ truyền thống”. Mặt khác, Gaurav Sarma (2017) lại xem “DVNHS giống như một hình thức ngân hàng số hóa hầu hết các hoạt động diễn ra. Hiểu cách khác thì, mọi mong muốn và yêu cầu mà KH thực hiện tại những CNNH bình thường đều được số hóa và kết hợp vào trong một ứng dụng DVNHS duy nhất, dựa vào đó KH không phải mất thời gian đi tới NH mà vẫn tiến hành được các giao dịch cần thiết, bên cạnh đó mọi hoạt động của NH như QL nguồn vốn, các rủi ro, bán hàng, marketing.
đều được số hóa hết. DVNHS được xem như một loại hình NH kỹ thuật số có yêu cầu cao về công nghệ, trong đó sẽ có những thay đổi về dịch vụ tài chính cho KH như: Các chiến lược di động, AI, blockchain, thanh toán, kỹ thuật số, RegTech, API, kênh phân phối, dữ liệu và công nghệ. Bên cạnh đó, E-Banking đây được biết đến như một hệ thống dịch vụ NH điện tử trong đó có: Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking, nó được hình thành nhằm hỗ trợ cho những dịch vụ NH trước đó. Còn Digital Banking xem như một loại 7 hình NH tác động nhiều tới toàn bộ hệ thống NH như quá trình hoạt động, sự lãnh đạo, chất lượng dịch vụ, yếu tố pháp lý, sổ sách giấy tờ liên quan cũng như cách thức giao dịch với KH khi họ có nhu cầu”.
Từ đó có thể hiểu rằng, NH số xem như một hoạt động được NH thực hiện dựa vào nền tảng công nghệ số, KH dễ dàng tiến hành những giao dịch của NH nhờ vào App đã được cài đặt trên thiết bị điện thoại, máy tính… của mình mà phải có kết nối internet, trong ứng dục trên sẽ bao gồm hầu hết những dịch vụ và sản phẩm mà NH có. Điều này giúp KH dễ dàng giao dịch mà không cần đến trực tiếp NH.2 Vai trò của dịch vụ ngân hàng số 2.1 Đối với ngân hàng Vai trò to lớn của NH số đem lại đó là tiết kiệm tối đa các chi phí không cần thiết cho NH, đưa NH lên những phân khúc thị trường cao hơn, quá trình hoạt động diễn thu lại kết quả cao, độ bảo mật cao và tăng sức cạnh tranh, như: - NH có thể giảm nhiều chi phí vì cần ít nhân viên hơn khi mà KH đã giao dịc online và hạn chế phải lặp lại nhiều lần những công đoạn giống nhau khi một giao dịch diễn ra. - Số lượng KH thực hiện giao dịch với NH nhiều hơn và nhanh hơn trước đây. Một số lý do chính như NH số giúp rút ngắn, giảm bớt những giấy tờ không cần thiết; những công việc được thực hiện trên giấy giảm bớt và tốc độ giao dịch tăng cao.
- NH có thể tự động hóa các quy trình giao dịch, lượng giao dịch viên được cắt giảm, hạn chế những thao tác lỗi, tăng độ an toàn khi giao dịch. - NH có thể đem tới nhiều dịch vụ mang tính trọn gói. Trong đó, phía NHTM sẽ tiến hành liên kết với những “công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và công ty tài chính khác” nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu của KH khi họ có mong muốn được đầu tư hoặc tham gia bảo hiểm. Một ví dụ điển hình như: Việc sử dụng Internet Banking sẽ giúp NHTM mang tới những thông tin có liên quan tới NH cho KH, đồng thới cũng giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới cũng như một số ưu đãi cho KH và giúp KH dễ thực hiện hơn.
- Quy mô hoạt động của NH được mở rộng và khả năng cạnh tranh cũng nâng lên. Việc sử dụng NHS giúp ích nhiều cho các NH trong việc đưa chất lượng dịch vụ tăng lên và hiệu quả làm việc được cải thiện, một yếu tố cũng khá quan trọng đó là 8 DVNHS hỗ trợ NHTM hoàn thành mục tiêu toàn cầu hóa một cách dễ dàng khi mà không cần mở nhiều chi nhánh tại các nước khác nhau.2 Đối với khách hàng DVNHS đem lại cho các KH nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian và tiện lợi hơn khi không phải tới NH để thực hiện các giao dịch mà có thể thực hiện mọi lúc nọi nơi một cach nhanh và thuận lợi, có thể kể tới như: - KH có thể dễ dàng liên hệ với NH và tiến hành những giao dịch nhanh và tiện lợi ở bất cứ đâu trong bất cứ thời điểm nào. Khi KH không có nhiều thời gian để tới NH, các DN vừa và nhỏ hay các KH cá nhân có ít giao dịch thì DVNHS được xem là lựa chọn hữu ích đối với họ. - KH thuận lợi hơn khi thực hiện giao dịch mà độ chính xác lại khá cao.
- Khoản chi cho phí dịch vụ online thấp hơn nhiều so với việc giao dịch trực tiếp tại quầy, điều này tiết kiệm chi phí cho KH vì họ không tốn phí đi lại, phí dịch vụ KH,… - Mọi thông tin liên quan tới tài khoản của KH đều nằm trên một trang web và app, KH có thể quản lý dễ dàng hơn. Nộng dung trong website và app của DVNHS có thể đem tới cho KH những thông tin liên quan tới giá chứng khoán, mức lãi suất, quản lý được các khoản đầu tư. Dựa trên các tiêu chuẩn đề ra trước đó, mọi KH đều được cung cấp dịch vụ đáp ứng đúng nhu cầu của mình và đặc biệt là không cần dựa trên thái độ của nhân viên NH. - Mức độ an toàn của KH được nâng lên.
Hình thức giao dịch trước đây thì KH có khi phải đem một lượng tiền lớn tới quầy giao dịch của NH, trong quá trình đi tới NH có thể gặp nhiều vấn đề khác nhau và đối mặt với những rủi ro hay khi kiểm đếm tiền mặt nhiều tại quầy có thể xảy ra sai sót gây ảnh hưởng tới lợi ích của KH.3 Đối với toàn bộ nền kinh tế - Hạn chế việc giao dịch bằng tiền mặt trong các hoạt động kinh tế. Hạn chế của việc sử dụng nhiều tiền mặt như tốn chi phí in ấn, phát hành tiền ra thị trường. Chính phủ khó kiểm soát được dòng tiền đang lưu thông trên thị trường từ đó khó khăn trong việc đưa ra “chính sách tài khóa” giúp điều hòa lại thị trường tài chính. - Hình thành mối liên kết giữa nhiều đơn vị tài chính khác nhau, từ đó dễ dàng hệ thống lại chính sách tài chính quốc gia.
9 - Đơn vị Nhà nước dễ nắm bắt thông tin và tình hình đóng thuế thuận lợi hơn. - Đây được xem như mối liên kết giữa nền kinh tế nước ta với thế giới, hơn hết là liên kết được với những đất nước có nền kinh tế phát triển. Dựa trên những lợi ích to lớn mà DVNHS đem lại thì các NHTM ở nước ta nên chuyển đổi dần sang việc áp dụng DVNHS vào hoạt động của mình.3 Các tính năng của ngân hàng số - Đăng ký mở tài khoản Online - Giao dịch thanh toán - Chuyển khoản/Chuyển tiền 24/7 trong nước, quốc tế - Vay vốn ngân hàng - Gửi tiền tiết kiệm - Tham gia sản phẩm bảo hiểm, đầu tư - Cập nhật thông tin tỷ giá - Quản lý tài sản tài chính cá nhân và doanh nghiệp 2.2 Cơ sở lý thuyết hành vi người tiêu dùng và quy trình ra quyết định của người tiêu dùng có liên quan 2.1 Khái niệm hành vi của người tiêu dùng Theo Kotler (2011) “nghiên cứu liên quan tới hành vi tiêu dùng của KH giống như vai trò cần thiết có tác động mạnh tới quá trình quyết định tiếp thị trong những DN. Khoảng thời gian đầu, người trực tiếp thực hiện việc tiếp thị sẽ nắm bắt được mong muốn của NTD dựa trên kiến thức và kinh nghiệm bán hàng của mình.
Mặc dù vậy, sự đổi mới về quy mô trong những DN cũng như nhiều thay đổi của thị trường đã khiến cho những NQT tiếp thị không có nhiều cơ hội tiếp xúc trực tiếp với NTD như trước, điều này khiến họ phải dựa nhiều vào nghiên cứu KH mới đưa ra câu trả lời phù hợp cho các câu hỏi dưới đây về mọi thị trường. Công tác nắm bắt được nhu cầu của NTD còn rộng hơn những vấn đề kể trên.