Chương 1: Trong phần này, nhóm lác già trình bày động cơ nghiên cửu, mục tiêu cùa nghiên cứu, phạm vi và đôi tượng được nghiên cứu, phương pháp nghiên cửu, tính mới của đề tài, ý nghía đóng góp của nghiên cứu và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sờ lý thuyết và tông quan các nghiên cứu trước đó. Trong phần này, nhóm tác giá trình bày nhừng kết quá đà được kết luận trong các nghiên cứu Irước đó tại quốc 1c và Viột Nam về những van de lien quan đến nội dung nghiên cứu. Đồng thời đưa ra cơ sờ lỷ thuyết và xây dựng giá thuyết cua bài nghiên cứu.
Chương 3: Trong phần này, tác già trình bày về mẫu dừ liệu được sử dụng, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phương pháp ước lượng được sử dụng, và cụ thê về mô hình hồi quy. Chương 4: Kết quá và thảo luận. Phần này tập trung trình bày các kết quá thu được trong quá trình nghiên cửu, bao gồm cá việc trình bày thống kê mô tá của các biến, phương trinh hồi quy để định lượng hóa mối quan hệ, thực hiện các kiểm định cho mô hình và tháo luận các kết quá nghiên cứu. Chương 5: Trong phần này, tác giả tông hợp lại các kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra những kiến nghị dựa trên kết quà, và xem xét các giới hạn của nghiên cứu.
Ngoài ra, tác giá đưa ra hướng phát triên tiềm năng cho đe tài trong tương lai. 6 CHƯƠNG 2: TONG QUAN LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm liên quan đến bài nghiên cứu 2.1 Tính dễ bị tồn thương Tính dề bị tổn thương là một khái niệm khá trừu lượng, được đề cập trong rất nhiều tài liệu và chưa thống nhất. Không cỏ một định nghĩa chính xác về tỉnh tốn thương vì khái niệm này được sử dụng linh hoạt trong các bôi cành nghiên cứu khác nhau.
Tính dề bị lốn thương bao hàm nhiều vấn đề, từ các biểu hiện vật lý (Mitchell, 1989; Schneider và Chen, 1980; Barth và Titus, 1984), kinh tế, xà hội và tài nguyên (Susman, O'Keefe, và Wisner 1983; Timmerman, 1981; Cannon, 1994); moi quan hệ của nơi xáy ra tai biến với hệ thống xà hội (Dow 1992; Cutter 1996, 2003),. Đối với nội dung nghiên cứu đề tài này, nhóm tác giá thu thập các định nghía cụ thế của tính dề bị tôn thương do biến đổi khí hậu (mục 2.2 Biến đôi khí hậu Hiện tại, chưa có một quy ước định nghĩa chỉnh thức thống nhất khái niệm biến đổi khí hậu. Nhóm nghiên cứu trinh bày khái niệm về biến đổi khí hậu theo dạng các quan điếm đến từ các tố chức khoa học, các hiệp hội quốc tế và các báo cáo chính phủ. ửy ban Liên chính phù về Biến đổi Khí hậu (IPCC,1990) định nghía về biến đổi khí hậu như sau: “Bất cứ sự biến đổi nào về khí hậu theo thời gian, do diễn biến tự nhiên hay là kết quá của hoạt động con người”.
Trong nghiên cứu này, khi nhắc đến vấn đề biến đôi khí hậu nhỏm tác già thường liên hệ tới các chi số liên quan đến 6 lĩnh vực hồ trợ sự sông (ví dụ: nước, thực phâm, V. Karl & cộng sự (1996) đưa ra quan diêm riêng về biến đổi khí hậu. GCOS thừa nhận và phản ánh quan điểm chung của cộng đồng khoa học rằng biến đổi khí hậu là hiện tượng toàn cầu và đang diền ra do tác động của hoạt động con người. Nó cho rằng tồn tại một tương quan giừa tăng nhiệt độ toàn cầu và sự gia tăng cua các khí nhà kính trong khí quyẻn, như CO2 và methane, do các hoạt động như đôt nhiên liệu fosil, phá rừng và các hoạt động công nghiệp.
Theo Greene (2000), biến đôi khí hậu được định nghía là "sự biến đôi của hệ thống khí quyển và khí hậu, kéo dài từ thời diem liền công nghiệp đến hiện tại, do hoạt động con người và sự tác động cúa nó".3 Tính dễ bị tôn thương với bìén đôi khí háu Nhóm nghiên cứu đà tiến hành đánh giá tôn thương do biến đôi khỉ hậu bằng GIS dựa vào khung khái niệm được sừ dụng rộng rài của Uy ban Liên chính phủ về Biến đôi 7 khí hậu (IPCC) về tính dễ bị tôn thương do biến đôi khí hậu. IPCC xác định tính dề bị tôn thương là “Khá năng dề bị hoặc không có khá năng ứng phó với các tác động cúa biến đối khí hậu cua một hộ thống, trong đó có cá biến đối khí hậu và khí hậu cực đoan. Tính dề bị tôn thương là một hàm số của các đặc tính, mức độ và tỷ lệ biến đôi khí hậu của một hệ thống được xác định qua độ lộ diộn, độ nhạy cám và khá năng thích ứng của hệ thống đó" (McCarthy & cộng sự, 2001). Tính dễ bị tôn thương do biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (lự nhiên, xã hội, kinh tế) có the bị tồn thương do biến đôi khí hậu hoặc không có khá năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đối khí hậu.
Trong các báo cáo của Uy ban liên chính phủ VC Biến đối khí hậu (1PCC), khái niêm này được sứ dụng khác nhau qua các thời kỳ (Bảng 1 ). Khái niệm tính dề bị tôn thương do biến đôi khí hậu của IPCC. Các báo cáo của Khái niệm tính dề bị tôn thương do biến đổi khí hậu IPCC Năm 1992 Mức độ mà một hệ thống không có khá năng đối phó với nhừng hậu quá cúa biển đôi khí hậu và nước biên dâng. Năm 1996 Báo cáo Mức độ có thể gây thiệt hại hoặc bất lợi do biến đổi khí hậu gây ra; lần thứ 2 (SAR) không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm cùa hệ thong mà còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới.
TAR định nghĩa tình trạng dề bị tồn thương do biến đôi khí hậu bao gôm mức độ phơi nhiêm, độ nhạy cảm và khá năng thích ứng/ Năm 2001 Báo cáo Tính de bị tốn thương bao hàm mức độ nhạy cảm cùa một hộ thống tự lần thứ 3 (TAR) nhiên hoặc xà hội với các có lợi hoặc bât lợi do biên đôi khí hậu gây ra dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Nó cũng bao hàm khả năng thích ửng đê hạn chế, đổi phó với thiệt hại và mửc độ phơi nhiềm của hệ thống với các biến đổi khí hậu (bao gồm các đặc linh, cường độ, mức độ và dao động cùa biển đôi khí hậu). 8 Năm 2007 Báo cáo Là mức độ một hệ thống (sinh thái, kinh tế-xà hội, sản xuất.) dề bị lần thứ 4 (AR4) ảnh hường và không thê chông chịu trước các tác động tiêu cực của biến đôi khí hậu, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan. Tương tự các báo cáo trước, IPCC một một lần nữa định nghĩa tính dỗ bị tôn thương là một hàm cùa mức độ phơi nhiềm, mức độ nhạy cảm và khá năng thích ứng của một hệ thong.
Theo định nghía này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường, tính dê bị tôn thương sè giám đi.4 Chi phí sử dụng vốn Trong lình vực ke toán tài chính thì chi phí vốn được xem là một khoan tài chính của doanh nghiệp, gôm nợ và vốn chủ sờ hừu. Theo quan diêm của các nhà đầu tư, đây là một ly lệ hoàn vốn yêu cầu cua chửng khoán hiện tại với một công ly đầu tư. Đó là mức lợi nhuận tối thiêu mà các nhà đầu tư mong đợi đê cung cấp vốn cho công ty. Nói tóm lại, nó có thê được mô tả là “Chi phí vốn đơn gián là lợi nhuận kỳ vọng của nhừng người cung cấp vốn cho doanh nghiệp” (Gallo, 2015).
Chi phí sừ dụng vốn đê cập trong bài nghiên cứu là chi phí sử dụng vôn binh quân gia quyền (WACC), ký hiệu là rwACC. Công thức tính như sau: rwACC = L*m*(l - t) + (1 - L)*rE. Vấn đề thứ hai là chi phí lãi vay được khẩu trừ thuế ở một số quốc gia, làm giảm chi phí vốn sau thuế. Biểu thị tỳ lộ nợ tài trợ L = ^Y là đỏn bầy tài chính.
Tách lác động của việc gia tăng tính dề bị tổn thương do khí hậu lên WACC thành ba trường họp riêng biệt: • ~^UL < 0 ■ c^uy^n sanê vốn chủ sờ hữu vì khó đảm bảo tài chính bằng nợ hơn, ví dụ: do dòng tiên không ôn định. drD 0 : Tăng chi phi nợ khi các chù nợ yêu câu phí báo hiêm rủi ro cao hơn. WUL drE 0: Tăng chi phí vốn chủ sở hừu do phần bù rủi ro cao hơn theo yêu càu WUL cúa các nhà đầu tư. 9 Thoạt nhìn, hai hiệu ứng đầu tiên có vẻ gần như giống hệt nhau.
Khi các chủ nợ phải đổi mặt với một ứng cứ viên cho vay tiềm năng, họ có thế chọn không mua nợ từ công ty, có thô do rui ro khí hậu cao. Trong trường hợp này, công ty SC thừa nhận việc thiếu bảo đàm nợ và tăng lài suất cho các đợt phát hành mới, làm lăng chi phi nợ. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rõ rệt. Do đó, hai trường hợp có thế lương tác với nhau, nhưng từ quan điếm kinh tế lượng, chúng khác nhau đáng kế.
Vi vậy , tinh trạng dề bị tôn thương do khí hậu có thể làm tăng chi phí nợ đổi với các công ty được bao gồm về mặt tài chỉnh vả khá năng bị loại trừ về mặt tài chính. Kling & cộng sự (2021) cho rằng các ngân hàng có thê gặp khỏ khăn trong việc xác định rui ro vờ nợ dự kiến trong bổi cánh dỗ bị tốn thương do khí hậu cao, ngụ ỷ rang không thế tim được mức lài suất tổi ưu đe bù đắp cho chi phí khó khăn dự kiến.5 Chi phí sứ dụng nợ Chi phí sử dụng nợ là một tỷ lệ hiệu quá đánh giá đúng những gì công ty phải trả cho các khoân nợ hiộn tại của mình. Trong tài liộu, họ thường xác định chi phí nợ thông qua hai phương pháp khác nhau: chia lài phải trả tương ứng với nợ hoặc xem xét chênh lệch tín dụng giữa lài suất phi rui ro và công ty (Ginglinger & Moreau, 2023). Lợi thế của việc xem xét chênh lệch tín dụng là nó nắm bắt được khoản lồ giao ngay có thế xảy ra đôi với khoản vay.
Trong khi đó, tính toán COD băng lài suât chia cho dư nợ chí mang lại lài suất thực.