Chương I Trong chương đầu tiên, nhóm tác giả đã xác định được lý do chọn đề tài; đặt ra mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; khái quát phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa và cấu trúc cơ bản của bài nghiên cứu khoa học. Từ đó, nhóm tác giả hiểu rõ hơn về mục tiêu, hướng đi của công trình. 10 CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan về thịt mát 2. Khái niệm thịt mát Thịt mát là loại thịt sau khi giết mổ được đưa vào làm mát bảo quản trong nhiệt độ từ 0 đến 4 độ C để thịt mềm và cho chất lượng tốt nhất. Quá trình bảo quản trong môi trường nhiệt độ thấp này sẽ giúp ức chế sự xâm nhập và phát triển của vi khuẩn trên miếng thịt cũng như giúp thịt luôn tươi ngon khi đến tay người tiêu dùng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định, đa số thịt được tiêu thụ tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới như EU, Mỹ đều là thịt mát.
Cách thức bảo quản và tiêu chuẩn thịt mát cũng đã được chuẩn hóa tại nhiều nhiều nước trên thế giới. Trước khi khái niệm “thịt mát” trở nên phổ biến thì Việt Nam là số ít quốc gia trên thế giới còn sử dụng thịt nóng (thịt ngay sau khi giết mổ) vì quan điểm rằng đó mới là đó mới là thịt tươi ngon. Dù loại thịt này chiếm 90% lượng thịt tiêu thụ trên thị trường nhưng theo nhiều chuyên gia, thịt sau khi giết mổ nếu bảo quản không đúng cách sẽ bị giảm chất lượng ngay lập tức do không kìm hãm được hoạt động của vi sinh vật. Bên cạnh đó, với khí hậu đặc trưng của Việt Nam là nóng ẩm, việc giết mổ, buôn bán trong nhiệt độ thường còn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào thịt, rất khó kiểm soát được an toàn vệ sinh thực phẩm.
Cụ thể, ở môi trường bên ngoài khoảng 4 – 5 tiếng, thịt nóng có thể đã bị ô nhiễm vi sinh. Theo Tiến sĩ Nguyễn Việt Hùng - Trưởng đại diện Viện nghiên cứu chăn nuôi quốc tế ILRI tại Đông Nam Á: “Tỷ lệ thịt heo nhiễm khuẩn Salmonella trên thị trường lên tới 40%”. Đây là nguy cơ tiềm ẩn có nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Đặc điểm thịt mát Để được gọi là thịt mát phải đảm bảo quy định khá nghiêm ngặt trong tất cả các khâu: vận chuyển đến nơi giết mổ, chờ giết mổ, giết mổ, làm mát, pha lóc, đóng gói, vận chuyển sản phẩm, bảo quản sản phẩm.
Cụ thể: - Vận chuyển đến nơi giết mổ: từ lúc lên phương tiện cho đến nơi giết mổ không được quá 72 giờ; không được đi liên tục quá 8 giờ, trừ khi có xe chuyên dụng được chạy liên tục không quá 12 giờ; 3 Bạn đã hiểu đúng tiêu chuẩn thịt mát thịt lợn sạch tại Việt Nam, [https://meatdeli.vn/tin-tuc/ban-da-hieu- dung-tieu-chuan-thit-mat-thit-lon-sach-tai-viet-nam.html], truy cập ngày 21/3/2023 11 - Chờ giết mổ: không được ăn trước khi giết mổ 12 giờ, uống nước sạch và nghỉ ngơi 2 giờ trước khi giết; - Giết mổ: + Làm ngất, lấy huyết, làm sạch lông, tách nội tạng; + Heo sau khi được giết mổ làm sạch sẽ được đưa vào kho lạnh để hạ nhiệt độ thân thịt xuống còn trong khoảng từ 0 - 4 độ C trong thời gian từ 16 - 24 giờ để đảm bảo quá trình sinh hóa; + Sau khi thân thịt được pha lóc, sơ chế trong điều kiện nhiệt độ phòng được làm lạnh, nhiệt độ thịt lúc này không được quá 7 độ C. Trong quá trình vận chuyển, bảo quản, bày bán yêu cầu điều kiện nhiệt độ trong khoảng từ 0 - 4 độ C. - Các sản phẩm động vật sau khi chết đều chuyển qua 4 giai đoạn: - Giai đoạn chín mềm: là thịt sau khi giết mổ cơ thịt mềm ra; - Giai đoạn co cứng do huyết tương làm cho thịt cứng lại, thịt rất dai, cứng và giá trị dinh dưỡng không cao, khó được tiêu hóa trong cơ thể; - Giai đoạn thịt chuyển từ giai đoạn chết cứng sang chín sinh hóa; - Giai đoạn chín sinh hóa: sử dụng các enzyme nội tại ở trong tế bào của thịt để phân hủy các liên kết giữa các tế bào, giữa các mô và tạo ra sản phẩm thịt mềm, hương vị thịt đậm đà, dễ được hấp thụ và được tiêu hóa tốt khi ăn. Đây là giai đoạn tối ưu nhất đối với người tiêu dùng, vừa đảm bảo an toàn, vừa đảm bảo chất lượng về mặt dinh dưỡng.
Để làm rõ hơn các đặc điểm của thịt mát, nhóm nghiên cứu có sự so sánh giữa thịt nóng, thịt mát và thịt đông lạnh. So sánh thịt nóng, thịt mát và thịt đông lạnh Thịt nóng Thịt mát Thịt đông lạnh Nhiệt độ thông Nhiệt độ thịt Từ 0 - 4 độ C -12 độ C thường 12-16 giờ, phải bán 2-5 ngày, có thể Bảo quản trong Thời gian phân hết ngay trong bảo quản trong siêu ngăn đá trong thời phối ngày thị, cửa hàng thêm gian 12 tháng 4 Thịt nóng và thịt mát, [https://sonongnghiep.vn/content-main-page/- /asset_publisher/RRft2iaPU2t0/blog/thit-nong-va-thit-mat], truy cập ngày 22/3/2023 12 1-2 ngày Trạng thái Mềm dính Mềm dẻo Đông cứng Phải rã đông trước Chế biến Chế biến ngay Chế biến ngay khi chế biến Nhà máy lớn, nhập Quy mô Nhỏ, lẻ Nhà máy lớn khẩu Siêu thị, cửa hàng Siêu thị, cửa hàng Phân phối Chợ, siêu thị thịt sạch thịt sạch (Nguồn Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Sản và Thủy sản) 2. Hành vi người tiêu dùng 2. Hành vi mua người tiêu dùng Chúng ta có thể thấy rằng mỗi ngày, con người đưa ra nhiều quyết định mua hàng.
Tình huống này đưa các công ty phải điều tra những gì mà người tiêu dùng mua, ở đâu, số lượng bao nhiêu, khi nào và tại sao họ mua. Sự điều tra như vậy liên quan đến nghiên cứu để hiểu hành vi tiêu dùng. Thuật ngữ hành vi tiêu dùng được xác định là hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua hàng, sử dụng, đánh giá và vứt bỏ sản phẩm và dịch vụ mà họ hy vọng sẽ đáp ứng nhu cầu của mình. 5 Tương ứng, một nguồn khác cũng mô tả rằng hành vi tiêu dùng là nghiên cứu về cá nhân, nhóm hoặc tổ chức và các quy trình họ sử dụng để lựa chọn, bảo vệ, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm hoặc ý tưởng để đáp ứng nhu cầu và tác động của những quy trình này đến người tiêu dùng và xã hội6.
Mô hình khái niệm về hành vi người tiêu dùng chỉ ra niềm tin của con người về bản chất chung của hành vi người tiêu dùng. Có ba thành phần cấu thành nên hành vi của người tiêu dùng7. Đầu tiên là yếu tố văn hóa. Mỗi nền văn hóa bao gồm các tiểu văn hóa, bao gồm các quốc tịch, ngôn ngữ, tôn giáo, nhóm chủng tộc và khu vực địa lý.
Văn hóa và các nhóm văn hóa xác định nhu cầu, mong muốn và hành vi của cá nhân. Thứ hai là yếu tố xã hội, liên quan đến các nhóm tham chiếu, gia đình, vai trò và địa vị. Yếu 5 Schiffman & Kanuk (2007), Consumer Behavior: 9th Edition, tr.2 6 Hawkins et al (2007), Consumer Behavior: Building Marketing Strategy, tr.6 7 Hawkins et al (2007), Consumer Behavior: Building Marketing Strategy 13 tố cuối cùng là cá nhân bao gồm tuổi tác và giai đoạn trong vòng đời, nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế, tính cách và quan niệm về bản thân, lối sống và các giá trị8. Hơn nữa, quá trình hành vi của người tiêu dùng, đó là bắt đầu với một giai đoạn, trong đó các cá nhân phát triển các khái niệm về bản thân và tiếp theo lối sống dựa trên nhiều ảnh hưởng bên trong (chủ yếu là tâm lý và thể chất) và bên ngoài (chủ yếu là xã hội học và nhân khẩu học).
Những quan niệm về bản thân và lối sống tạo ra nhu cầu và mong muốn, nhiều trong số đó đòi hỏi quyết định tiêu dùng để thỏa mãn. Khi các cá nhân đáp ứng các điều kiện liên quan, cuối cùng quy trình quyết định của người tiêu dùng sẽ được kích hoạt9. Điều các nhà tiếp thị cần hiểu là những gì xảy ra trong ý thức của người tiêu dùng giữa sự xuất hiện kích thích tiếp thị bên ngoài (nghĩa là cung cấp sản phẩm, dịch vụ, phân phối và thông tin liên lạc) và các quyết định mua hàng cuối cùng chẳng hạn như sản phẩm của người tiêu dùng lựa chọn, lựa chọn thương hiệu, lựa chọn đại lý, số lượng mua, thời điểm mua và phương thức thanh toán 10. Thông qua trải nghiệm của người tiêu dùng và học tập, họ có được niềm tin và thái độ.
Những điều này lại tác động đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Theo Schiffman & Kanuk (2007), một mô hình đơn giản về quyết định của người tiêu dùng làm mô tả từng bước về cách người tiêu dùng kết thúc với quyết định mua hàng. Mô hình này được kích hoạt bởi nhận thức vấn đề của cá nhân trong việc đáp ứng nhu cầu bình thường của họ (kích thích bên trong). Đầu vào của quá trình ra quyết định của cá nhân có thể đến từ những nỗ lực tiếp thị của một trong hai công ty, chẳng hạn như các thuộc tính của sản phẩm, khuyến mãi, giá thấp hơn và các kênh phân phối cho phép người tiêu dùng có được sản phẩm phổ biến rộng rãi; hoặc môi trường văn hóa xã hội, chẳng hạn như gia đình, các nguồn không chính thức, các nguồn phi thương mại khác, tầng lớp xã hội nơi cô ấy hoặc anh ấy tham gia, văn hóa và các yếu tố văn hóa nhóm.
Những loại đầu vào này có thể được phân loại là kích thích bên ngoài. Trong giai đoạn này, mọi tín hiệu sắp tới đều trở thành yếu tố cân nhắc đối với người tiêu dùng quy trình ra quyết định. Giai đoạn tiếp theo dẫn đến quá trình ra quyết định. Trong quá trình này, các yếu tố tâm lý, ví dụ, động cơ cá nhân, nhận thức, học tập, tính cách, thái độ và kinh nghiệm trước đây của anh ấy hoặc cô ấy đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục và đánh giá các lựa chọn thay thế.
Như Kotler & Keller đã 8 Kotler & Keller (2009), Marketing Management 9 Hawkins et al (2007), Consumer Behavior: Building Marketing Strategy, tr.26-27 10 Kotler & Keller (2009), Marketing Management, tr. 202 14 đề cập rằng trong việc đánh giá các lựa chọn thay thế, trước tiên, người tiêu dùng đang cố gắng thỏa mãn những gì họ cần. Thứ hai, họ sẽ tìm kiếm những lợi ích nhất định từ giải pháp sản phẩm, trước khi xem mỗi sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính với những khả năng khác nhau để mang lại những lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ.