CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu Trên thế giới tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về toán trách nhiệm xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh hành vi của công ty phù hợp với các chuẩn mực và kỳ vọng của xã hội sẽ hình thành nên sự hiểu biết về kế toán trách nhiệm xã hội (Sethi, 1979). Hon nữa, các học giả lập luận rằng kế toán trách nhiệm xã hội bao gồm các khía cạnh như kinh tế, đạo đức, tính hợp pháp và lòng từ thiện trong một khung thời gian cụ thể (Carroll, 1979). Một số doanh nhân cho rằng DN chỉ nên ưu tiên kinh doanh và doanh thu mà bỏ qua các mối quan tâm khác.
Họ lập luận rằng hiệu quả và lợi nhuận của các hoạt động của họ nên là trọng tâm duy nhất, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Những cá nhân này cho rằng quản lý trách nhiệm môi trường và xã hội, trong số các yếu tố khác, nên là trách nhiệm của chính phủ. Các DN phải thừa nhận và thực hiện nghĩa vụ của mình đối vói thế giới xung quanh, bao gồm môi trường, nhân viên, cổ đông, người tiêu dùng và nhà cung cap. Neu không có những yếu tố thiết yếu này, DN không thể phát triển và tiến bộ.
Vì vậy, điều cấp thiết là các DN phải duy trì các biện pháp công bằng và hỗ trợ liên quan đến các yếu tố này, vì chúng không thể thiếu đối với sự thành công và bền vững của DN. Tác động của các DN đối với các bộ phận khác nhau của xã hội có thể là cả tích cực và tiêu cực. Điều này đã thúc đẩy nhiều công ty trên toàn thế giới ưu tiên thực hiện kế toán trách nhiệm xã hội của DN. Thay vì chỉ tập trung vào kinh doanh, các nhà quản lý giờ đây quan tâm nhiều hon đến việc tạo ra sự khác biệt trong xã hội và môi trường.
Để phát triển lâu dài, các DN phải đương đầu và giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng, nhân viên, khách hàng và môi trường. Bằng cách đó, họ có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông (Trần Minh Phương, 2017).1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về kế toán trách nhiệm xã hội Nghiên cứu của Matteo Molinari và Charl Villiers (2021) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cho nhằm khám phá các mối quan hệ phức tạp và các vấn đề chủ quan các tương tác khác nhau giữa các biến số với nghiên cứu hạn chế trước đó. Theo 6 kết quả nghiên cứu, kế toán trách nhiệm xã hội có sự khác nhau giữa các DN và đang phải đối mặt với những thay đổi thách thức do dịch Covid-19. Tuy nhiên, đại dịch này cũng mang đến những cơ hội mới cho họ trong tương lai, cả về cài đặt và câu hỏi nghiên cứu cũng như về phương pháp và thực hành mới.
Fowzia (2011) xem xét việc thực hiện kế toán trách nhiệm xã hội trong các loại hình tổ chức dịch vụ khác nhau và mức độ hài lòng đối với hệ thống kế toán mà các tổ chức này đang áp dụng. Dữ liệu phân tích được thu thập từ 88 tổ chức dịch vụ ở Bangladesh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự hài lòng đối với hệ thống kế toán trách nhiệm bị ảnh hưởng từ việc phân công trách nhiệm, phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động và hệ thống khen thưởng. Điều này hàm ý rằng có sự liên quan giữa các yếu tố phân quyền quản lý và hệ thống khen thưởng đến mức độ hài lòng về hệ thống kế toán trách nhiệm trong các đơn vị này.
Nghiên cứu của Perrini (2005) trong số 90 công ty được lựa chọn để đại diện vào thời điểm 2010, có 25% số công ty thuộc về các lĩnh vực tài chính, 20% thuộc về các lĩnh vực hàng tiêu dùng, 24% thuộc về các lĩnh vực dịch vụ, 10% thuộc về các ngành công nghiệp cơ bản và một nửa số công ty khác nhau. Các công ty được phỏng vấn đều tạo lập bảng Báo cáo kết quả hoạt động xã hội theo cách liên quan đến các bên như: khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông và các bên liên quan sẽ quan tâm đến các chủ đề chính, như nguồn nhân lực, cơ quan công quyền, đối tác tài chính, cộng đồng và môi trường. Mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm và tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động của các công ty thuộc các tập đoàn công nghiệp ở Jordan, tác giả Gharayba & cộng sự (2008) chỉ ra bằng chứng cho thấy tồn tại các cấu trúc tổ chức, phân cấp và trao quyền, kết hợp với khen thưởng và trừng phạt tại các đơn vị này nhất quán với lý thuyết kế toán trách nhiệm. Từ đó, các DN thuộc các tập đoàn công nghiệp đã áp dụng khá triệt để kế toán trách nhiệm trong hoạt động quản trị của mình.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tương quan giữa chính sách khen thưởng và tỷ lệ sinh lời của các DN. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được số liệu sinh lời có phản ánh đúng thực trạng kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của các DN trên thực tế một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 7 thưởng và chế độ đãi ngộ cũng là các yếu tố tác động đến hành vi điều chỉnh thu thập cảu DN. Điều này thúc đẩy DN điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính. Nghiên cứu của tác giả Gray & cộng sự (2013) đề cập đến mối liên hệ giữa kế toán truyền thống và kế toán trách nhiệm xã hội của DN.
Theo đó, hệ thống kế toán hiện nay đã định hình từ lâu đời và trở thành một khuôn khổ gần như là kỷ luật buộc mọi DN phải tuân theo và do đó trở nên cứng nhắc, không có sự đa dạng cần thiết để phản ánh thực tiễn nhiều khía cạnh theo đà phát triển và yêu cầu của xã hội ngày nay. Tác giả đưa ra lập luận cần thiết phải định hình lại hệ thống kế toán theo hướng kế toán xã hội đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin đa dạng như môi trường, nước, không khí, chất thải, chuỗi cung ứng. của đa dạng các đối tượng trong xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước về kế toán trách nhiệm xã hội Theo Lê Thị Oanh (2023), trong xu hướng đặc biệt quan trọng mang tính toàn cầu hiện nay là việc bảo vệ môi trường sống của toàn thế giói, nó đang được tất cả các nước trên thế giói chú ý và hướng tới đặ biệt là ctrách nhiệm xã hội của DN ngày càng góp phần quan trọng. Trong tình hình đó, kế toán trách nhiệm xã hội ngày càng chứng minh là công cụ đo lường hiệu quả trong việc góp phần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, cũng như thông tin trong báo cáo trách nhiệm xã hội được công bố mang tính minh bạch và đảm bảo độ tin cậy cao.
Nghiên cứu của tác giả nhằm xác định các nhân tố tác động đến kế toán trách nhiệm xã hội của DN, đồng thời đưa ra một số gợi ý xây dựng kế toán trách nhiệm xã hội đến tất cả DN Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng như sau: 8 Hình 1.1 Mô hình vận dụng kê toán trách nhiệm xẵ hội của Lê Thị Oanh (Nguồn: Lề Thị Oanh, 2023) Nghiền cứu của Phan Thị Nhật Linh (2021) trong giai đoạn dịch Covid đã cho thây ảnh hưởng rõ rệt của các DN bị tàn phá nặng nề về hệ thống kế toán. Tác giả đi sâu phân tích nhũng tác động của đợt bùng phát này đôi với hoạt động kê toán và công bô thông tin, đồng thời đưa ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến kế toán. Ngoài ra, tác giả đưa ra các khuyến nghị để cải thiện cả hoạt động kế toán và tài chính trong bối cảnh đại dịch đang diễn ra.
Để thích ứng được với hoàn cảnh hiện tại, kế toán viên phải tích cực nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật thường xuyên các quy định vê kế toán. DN trang bị đầy đủ, đầu tư các trang bị kỹ thuật để thích úng được với hoàn cảnh hiện tại, kê toán viên phải tích cực nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật thường xuyên các quy định về kế toán. Đồng thời, chủ động lập nhiều phương án dụ phòng ứng phó với khủng hoảng do dịch bệnh và kê hoạch duy trì các hoạt động kinh doanh. 9 Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2021) “kinh tế xanh đang là mối quan tâm mang tính toàn cầu mà các nước trên thế giới đang hướng tới, nó vừa hướng đến việc bảo vệ môi trường sống và xã hội vừa hướng tới sự phát triển kinh tế của các DN hiện nay.
Kế toán trách nhiệm xã hội đang dần chứng tỏ là công cụ hỗ trợ hữu ích khi công bố các báo cáo trách nhiệm xã hội của DN. Nghiên cứu được tác giả thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. Kết quả tác giả xác định được được 4 nhằn tố có tác động tích cực gồm: áp lực từ các bên liên quan, nhận thức nhà quản ỉý, đặc điểm DN, trỉnh độ kế toán và 1 nhân tố tác động tiêu cực là áp lực chi phí môi trường”. Qua nghiên cứu này, tác giả đưa ra các gợi ý chính sách để việc thực hiện kế toán trách nhiệm xã hội trong các DN ngành nhựa tại Hà Nội một cách hữu hiệu.
Trong nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2021) về vận dụng kế toán trách nhiệm xã hội trong các DN niêm yết Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính nhằm tập trung vào các khái niệm cơ bản để so sánh và nâng cao chất lượng thông tin liên quan đến kế toán trách nhiệm xã hội. Dựa trên một số lý thuyết nền tảng và tổng hợp nhiều bài học từ các nước trên thế giới chỉ ra các rào cản nhằm đưa ra các giải pháp giúp nâng cao khả năng áp dụng và nâng cao chất lượng thông tin công bố trong các DN. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự (2021) cho rằng “DN và xã hội là 2 thực thể tuy không cùng chiều nhưng liên hệ gắn liền với nhau.
Xã hội tạo các điều kiện cho các DN thoải mái hoạt động kinh doanh và gia tăng sản xuất thì DN cũng thực hiện các trách nhiệm của mình đối với xã hội”.