ĐẶT VẤN ĐỀ Trong tất cả các răng, răng khôn hàm dƣới (RKHD) thƣờng mọc lệch và ngầm nhất, gây ra nhiều bệnh lý răng miệng nhƣ sâu răng, viêm nha chu, nhiễm trùng, u nang…ảnh hƣởng xấu đến chức năng ăn nhai và tâm lý của bệnh nhân. Do đó, nhổ răng khôn hàm dƣới lệch ngầm (RKHDLN) là một trong những thủ thuật thƣờng gặp nhất trong thực hành nha khoa. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có sự đồng thuận hoàn toàn trong việc phẫu thuật đối với những RKHDLN không triệu chứng. Trong chỉ định nhổ bỏ răng khôn hàm dƣới lệch ngầm (RKHDLN), ƣớc tính khoảng 54% đƣợc nhổ nhằm mục đích dự phòng dù không có triệu chứng và 30-40% đƣợc nhổ mà không có chỉ định rõ ràng1.
Vấn đề này vẫn đang gây tranh cãi vì không thể dự tính chính xác các biến chứng và bệnh lý trong tƣơng lai khi so sánh các lợi ích của nhổ dự phòng với các nguy cơ của phẫu thuật nhƣ đau, sƣng, chảy máu, khít hàm, viêm ổ răng khô, tổn thƣơng mô, mất cảm giác hoặc dị cảm do tổn thƣơng thần kinh xƣơng ổ dƣới. Dù đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mô quanh răng của RKHDLN có thể phát triển thành các bệnh lý u nang, nhƣng ngƣời ta chỉ chấp nhận nhổ dự phòng khi kích thƣớc bao răng trên phim X-quang lớn hơn 2,5 mm, kích thƣớc bao răng nhỏ hơn 2,5mm vẫn đƣợc xem là bình thƣờng2. Các bằng chứng hiện có không đủ để cho chúng ta biết liệu có nên nhổ RKLN không triệu chứng hay không. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây ủng hộ quan điểm nhổ dự phòng, và ngày càng có nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện để đƣa đến một hƣớng tiếp cận thống nhất trong chẩn đoán và chỉ định nhổ đối với những RKHDLN không triệu chứng3.
Kết quả của một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy trong bao răng của các RKHDLN. 2 không triệu chứng có nồng độ các chỉ dẫn sinh học stress oxy hóa và các gốc oxy hoạt động tăng cao, dẫn đến tổn thƣơng mô. Trong đó, Malondialdehyde (MDA) là sản phẩm chính và đƣợc nghiên cứu nhiều nhất của quá trình peroxy hóa axit béo không bão hòa; quá trình này tiến triển một cách không kiểm soát làm tổn thƣơng tính toàn vẹn của tế bào. Do đó, nồng độ MDA tăng đƣợc xem là một dấu chứng của stress oxy hóa2.
Các nghiên cứu cho thấy có hoạt động viêm mạn ở các RKHDLN không triệu chứng. Nồng độ chỉ dẫn sinh học của stress oxy hóa trong bao răng cao liên quan đến tiềm năng biệt hóa tế bào của biểu mô răng, có thể phát triển thành các u nguồn gốc biểu mô răng và nang do răng. Hiện nay, trên thế giới đã có hai nghiên cứu đƣợc thực hiện để khảo sát nồng độ MDA ở những ngƣời có RKHDLN không triệu chứng. Nghiên cứu của Umut Tekin và cs2 (2011) khảo sát nồng độ MDA trong các bao răng ở RK không triệu chứng, kết quả cho thấy nồng độ MDA tăng đáng kể trong bao răng so với mô nƣớu bình thƣờng.
Fabio Camacho-Alonso và cs1 (2019) đánh giá tƣơng quan nồng độ MDA trong nƣớc bọt và bao răng của RKHDLN không triệu chứng và sự thay đổi MDA sau khi nhổ răng, kết quả nồng độ MDA trong nƣớc bọt có tƣơng quan dƣơng mạnh với nồng độ có trong bao răng và nồng độ MDA trong nƣớc bọt ở nhóm có RKHDLN không triệu chứng cao hơn nhóm không có RK, các khác biệt đều có ý nghĩa thống kê. Ở Việt Nam hiện tại chƣa có nghiên cứu nào đƣợc thực hiện để khảo sát nồng độ MDA trong các bao răng ở RKHDLN không triệu chứng, cũng nhƣ chứng minh có giảm hoạt động viêm và giảm MDA nƣớc bọt sau khi nhổ RKHDLN. 3 chúng tôi thực hiện nghiên cứu đánh giá “Nồng độ MDA trong nƣớc bọt, bao răng và mô nƣớu lành mạnh ở ngƣời có RKHDLN không triệu chứng” nhằm tìm kiếm các chứng cứ góp phần vào việc đƣa ra chỉ định điều trị hợp lý RKHDLN không triệu chứng. Câu hỏi nghiên cứu Có sự khác biệt về nồng độ MDA trong nƣớc bọt giữa nhóm có và không có RKHDLN không triệu chứng hay không và nồng độ này có thay đổi sau khi RKHDLN đƣợc nhổ hay không? Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Đánh giá đặc điểm nồng độ MDA trong môi trường miệng liên quan RKHDLN không triệu chứng và sự thay đổi nồng độ này trong nƣớc bọt sau khi nhổ RKHDLN không triệu chứng.
Mục tiêu chuyên biệt 1) So sánh nồng độ MDA trong nƣớc bọt ở nhóm bệnh nhân có RKHDLN không triệu chứng và nhóm chứng không có RKHDLN. 2) So sánh nồng độ MDA trong bao răng và mô nướu lành mạnh ở nhóm bệnh nhân có RKHDLN không triệu chứng. 3) Xác định mối tƣơng quan giữa nồng độ MDA trong nước bọt trước nhổ và trong bao răng ở nhóm bệnh nhân có RKHDLN không triệu chứng. 4) Đánh giá sự thay đổi nồng độ MDA nƣớc bọt tại thời điểm sau nhổ răng 1 tháng so với trƣớc nhổ ở nhóm có RKHDLN không triệu chứng.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bao răng trong giai đoạn hình thành răng Trong quá trình hình thành răng, bao răng xuất hiện đầu giai đoạn chỏm. Bao răng chứa ngoại trung mô đặc bao quanh cơ quan men và nhú răng. Nó biệt hóa từ nhú răng khi xuất hiện và sắp xếp các thành phần dạng đám rối của khung ngoại bào. Bao răng tạo thành nguyên bào xê măng, nguyên bào xƣơng và nguyên bào sợi, sau này hình thành mô nha chu (xê măng, xƣơng ổ và dây chằng nha chu).
Ngƣợc lại, các tế bào từ nhú răng là nguồn gốc của phức hợp ngà - tủy. Mặc dù có phân chia chức năng rõ ràng trong các thành phần hình thành răng, một nghiên cứu cho thấy sự tham gia của nhú răng tạo thành sớm trong sự phát triển của bao răng4. Nghiên cứu này cũng cho thấy tiềm năng của tế bào bao răng trong quá trình biệt hóa thành nguyên bào ngà trong giai đoạn chỏm, bộc lộ khả năng kích dẫn tín hiệu của biểu mô men lớp trong và vi môi trƣờng của nó4. Khi răng phát triển, theo sau là sự hình thành chân răng (Hình 1.1), mỏm xƣơng ổ bắt đầu trƣởng thành.
Cuối giai đoạn chuông, vách xƣơng và gờ xƣơng ổ bắt đầu hình thành, đặt mỗi mầm răng vào vị trí chuyên biệt5. Di chuyển theo nhiều hƣớng khác nhau đảm bảo răng đạt đƣợc vị trí chính xác trong mặt phẳng nhai của xƣơng hàm đang phát triển. Khi chân răng đã hình thành, mỏm xƣơng ổ tăng chiều cao. Vào thời điểm này, tế bào bao răng biệt hóa thành xê măng, xƣơng ổ và tế bào dây chằng nha chu.
Bao răng cũng có vai trò thiết yếu trong sự mọc răng. Thậm chí khi không có sự di chuyển tự nhiên của răng, bao răng vẫn mở rộng về phía mặt. 5 phẳng nhai (Hình 1. Điều này dẫn đến tiêu xƣơng, tạo con đƣờng mọc răng đặc trƣng bằng dòng các tế bào đơn nhân biệt hóa thành hủy cốt bào6.
Hiện tƣợng này đƣợc chứng minh 4 thập kỉ trƣớc ở răng tiền cối của chó vào tuần 13-27 sau sinh. Loại bỏ thân răng mà không làm xáo trộn đáng kể bao răng không làm gián đoạn con đƣờng mọc răng. Ngoài ra, phẫu thuật loại bỏ bao răng ở chó ngăn cản quá trình kéo dài chân răng và sự mọc răng7. Khởi đầu Giai đoạn nụ Giai đoạn chỏm Giai đoạn chuông Hình thành chân Lƣới Nguyên bào xê măng Bao răng Men Biểu mô Cơ quan men Ngoại trung mô Lá răng Lá răng Vòng cổ Ống dẫn Ngoại trung mô đặc Ngà Xê măng Bao răng Nguyên bào ngà Tủy Mọc răng bình thƣờng Răng không mọc Ngoại trung mô Bao răng Xê măng Ngoại trung mô Xƣơng Hình 1.1 Quá trình hình thành răng và mọc răng “Nguồn: Victor Coutinho Bastos và cs8” Tƣơng tác qua lại và nhiều lần giữa biểu mô miệng và ngoại trung mô bên dƣới chịu trách nhiệm cho sự phát triển răng.
Thân răng đƣợc tạo thành qua 4 giai đoạn chính: khởi đầu, theo sau là giai đoạn nụ, chỏm, chuông. Mỗi giai đoạn đặc trƣng. 6 bởi đặc điểm phân tử và hình thái học. Khi thân răng đã hình thành, chân răng bắt đầu phát triển với sự mở rộng vòng cổ của cơ quan men theo hƣớng về phía chóp.
Biệt hóa mô học của những mô nâng đỡ răng cũng bắt đầu trong giai đoạn này, hỗ trợ sự phát triển các thành phần mô nha chu từ tế bào bao răng. Bình thƣờng răng đạt đƣợc độ cao mặt phẳng nhai vào đúng nơi và đúng thời điểm. Tuy nhiên, quá trình này có thể không xảy ra do thiếu khoảng, rào cản vật lý, hoặc các yếu tố giải phẫu khác làm răng mọc lệch ngầm. Ngoài ra, vì những lí do khác hoặc chƣa biết, lỗi xảy ra trong chức năng của bao răng để điều khiển quá trình mọc răng cũng dẫn đến thất bại mọc răng.2 Bao răng ở những răng không mọc đƣợc Khi chân răng, dây chằng nha chu và xƣơng ổ phát triển hoàn thiện, ngoại trung mô của bao răng và trung mô quanh bao răng sắp xếp lỏng lẻo trở thành cấu trúc giàu collagen dính chặt vào thân răng5.
Biểu mô men thoái hóa thƣờng mất sau khi răng mọc, có thể do chuyển dạng thành biểu mô kết nối hoặc chết theo lập trình. Nếu răng không mọc, biểu mô men thoái hóa vẫn dính vào bề mặt răng và mô liên kết của bao răng. Sự tồn tại của mô này liên kết với thân răng đƣợc Consolaro và Cardoso mô tả là “mô quanh răng để bảo vệ men răng khỏi các hủy cốt bào, tránh tạo xƣơng trực tiếp trên bề mặt men, hoạt động nhƣ rào cản đối với môi trƣờng bên trong cơ thể trong khi mọc răng; tạo sự bảo vệ khoang này khỏi môi trƣờng nhiễm của khoang miệng”9. Tuy nhiên, số phận của bao răng sẽ nhƣ thế nào nếu quá trình mọc răng không diễn ra? Quá trình hình thành răng và mọc răng liên quan nhau, răng vĩnh viễn.
7 thƣờng mọc khi chân răng hình thành 2/3 tới 3/4 chiều dài. Sự phát triển chân răng bị rối loạn dẫn đến trì hoãn hoặc không mọc răng. Quá trình phức tạp này đƣa đến các khó khăn trên lâm sàng, tác động trực tiếp đến chức năng nhai, khớp cắn, và theo đó là sức khỏe vùng miệng của bệnh nhân. Đối với răng lệch ngầm, chân răng cũng nhƣ dây chằng nha chu và xƣơng ổ có thể phát triển bình thƣờng.
Tuy nhiên, thấu quang phần thân vẫn tồn tại dai dẳng, thỉnh thoảng cả đời, dính vào đƣờng nối men xê măng, tƣơng ứng với bao răng và biểu mô men thoái hóa. Mô này tồn tại qua nhiều năm.