CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NHTM VÀ VỐN CỦA NHTM 1. Khái niệm của NHTM “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo Quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2 1 nhằm mục tiêu lợi nhuận” [Luật các TCTD số 47/2010/QH12] 1. Khái niệm vốn của NHTM “Vốn của NHTM có thể coi là những giá trị tiền tệ do bản thân NH thương mại tạo lập hay huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”.[3, tr26] Nguồn vốn của NHTM bao gồm - Vốn tự có và coi như tự có + Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NH tạo lập được.
Vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn của NH song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một NH. Đây là cơ sở quan trọng để mở rộng qui mô hoạt động. Vốn tự có quyết định đến năng lực và sức cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của NH đối với khách hàng. Theo đà phát triển của NH, vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối.
Ngoài ra đây còn là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng và khối lượng vốn huy động của NH cũng như việc duy trì khả năng thanh khoản trong trường hợp nền kinh tế xảy ra biến động ảnh hưởng đến NH. + Vốn coi như tự có Gồm phần lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng có thể xem như là phần vốn coi như tự có của NHTM, vì đó là những khoản tiền mà NH phải sử dụng vào mục đích nhất định nhưng chưa sử dụng. Vốn tự có và coi như tự có của NHTM có một vị trí quan trọng, người ta ví nó như một cái đệm để chống đỡ sự biến động mạnh của nền kinh tế dẫn đến sự sụt giảm trong giá trị tài 9 sản có của NH và có thể đẩy NH đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản và phá sản. Tại Việt Nam, theo quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD thì TCTD (trừ CN NH nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9%.
- Vốn huy động: “Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà các NH huy động được từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dung làm vốn để kinh doanh” [3, tr49]. Bản chất , vốn huy động là tài sản thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội, NH chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động là dòng vốn thường xuyên biến động theo thị trường (tùy thuộc vào phần chi phí NH chấp nhận bỏ ra để huy động) nên NH không được phép sử dụng toàn bộ vào kinh doanh mà phải có tỷ lệ dự trữ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động là nguồn vốn chính trong hoạt động kinh doanh của NHTM, nên phần vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NH.
- Vốn đi vay Là nguồn vốn mà nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời, NH chủ động đi vay trên thị trường. Nguồn vốn đi vay thường chiếm phần nhỏ trong kết cấu nguồn vốn của NH nhưng đây là nguồn vốn cần thiết đảm bảo cho NH hoạt động một cách bình thường.Vốn đi vay thường mang tính chất ổn định, tuy nhiên phần chi phí phải trả khá cao, đây là vấn đề bất lợi trong việc tối đa hóa lợi nhuận buộc các NHTM phải tính toán kỹ lưỡng trước khi quyết định vay. - Vốn khác Là toàn bộ phần vốn mà NH huy động được thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ uỷ thác đầu tư. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1.
Nguồn vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, và đây chính là mặt hàng được NHTM 10 kinh doanh. Chính vì thế, vốn là yếu tố đầu tiên quyết định viêc kinh doanh của NH. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Những NH dồi dào trong vốn là những NH có thế mạnh trong kinh doanh.
Do vậy công tác HĐV là việc mà NHTM phải thường xuyên cập nhật và quan tâm tới trong suốt quá trình hoạt động của mình. Nguồn vốn của NH sẽ quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH Vốn của NH quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng. Nhờ có nguồn vốn lớn thì lượng cung tiền cho khách hàng tăng, mà lượng cung tiền tăng sẽ thu hút được nhiều khách hàng và ngược lại nguồn vốn nhỏ thì lượng cung tiền cho khách hàng nhỏ sẽ hạn chế lượng khách hàng đến với NH. Thông thường, NH trường vốn thì việc kinh doanh sẽ đa năng hơn, phạm vi hoạt động rộng hơn, khối lượng và mức đầu tư cho vay cũng lớn hơn các NH đoản vốn.
Trong trường hợp khả năng vốn hạn hẹp, các NH nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động của lãi suất, gây ảnh hưởng đến công tác HĐV từ tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Vì thế khi trên địa bàn hoạt động của NHTM có nhu cầu về vốn rất lớn nhưng NH lại không huy động được vốn, thì cũng đồng nghĩa với việc thu hẹp thị trường tín dụng và các nghiệp vụ kinh doanh khác của NH. Nguồn vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của NH trên thương trường Vốn lớn thu hút được khách hàng đến quan hệ giao dịch đồng thời cũng tạo cho khách hàng độ tin tưởng vào NH. Khi trường vốn thì khả năng thanh toán chi trả cao và như vậy khách hàng rất yên tâm đặt quan hệ mà ít bận tâm về vấn đề rủi ro có thể xảy ra và đó là yếu tố đầy hấp dẫn đối với khách hàng.
Khi đã tạo được niềm tin với khách hàng thì thông qua khách hàng, thương hiệu của NH ngày càng được quảng bá rộng rãi, uy tín của NH ngày càng được nâng cao trên thị trường. Với tiềm năng vốn lớn, NH có thể mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh đồng thời có các hoạt động hiệu quả nhằm giữ vững chữ tín. Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của NH Trong kinh tế thị trường, công tác HĐV muốn đạt hiệu quả đòi hỏi các NHTM phải chú trọng nâng cao trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại. làm tiền đề cho việc thu hút vốn.
Khi nguồn vốn đủ mạnh và biết khai thác sử dụng có hiệu quả sẽ củng cố thế và lực, tạo lập uy tín ngày càng cao. Trong quan hệ kinh tế thì bất cứ khách hàng nào cũng muốn tìm NHTM có năng lực tài chính lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng qui mô tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất ưu đãi cho mình. Mặt khác các NHTM có điều kiện để mở rộng việc kinh doanh đa năng góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn, tăng sức cạnh tranh của mình trên thị trường. HOẠT ĐỘNG HĐV CỦA NHTM 1.
Khái niệm hoạt động HĐV Hoạt động HĐV là một trong những hoạt động chính và quan trọng nhất của NHTM. Trong tỷ trọng nguồn vốn của NHTM thì vốn huy động thường chiếm phần lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động kinh doanh của NH. Hơn nữa, phần chi phí phải trả cho nguồn vốn này thương thấp hơn các nguồn vốn từ các TCTD khác. Vì vậy, hầu hết các NHTM đều đẩy mạnh việc mở rộng nguồn vốn thông qua việc tăng trưởng vốn huy động.
Vai trò của hoạt động HĐV 1. Đối với nền kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế, việc phát triển tiềm lực từ bên trong luôn có ý nghĩa quan trọng và giữ một sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lâu dài và vững vàng của một nền kinh tế. Sự viện trợ cho vay từ các nguồn bên ngoài hay đầu tư nước ngoài cũng chỉ là tạm thời. Lịch sử các cuộc khủng hoảng kinh tế, các bong bóng tài chính đã chứng minh rằng không thể mong đợi sự tăng trưởng phát triển nhanh và vững chắc nhờ vào các nguồn ngoại lực mà phải mở rộng công tác HĐV từ nội bộ nền kinh tế.
Các nước phát triển đã cho thấy rằng để kiềm chế lạm phát và ổn định tiền tệ , 12 Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các phương án về kinh tế vi mô, vĩ mô. Trong đó giải pháp có hiệu quả khá lớn là không ngừng tăng cường HĐV, nhất là HĐV thông qua hệ thống NHTM. Công tác HĐV của NHTM chính là vận động số vốn nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối của các chủ sở hữu khác nhau trên thị trường và gửi vào NH. Thông qua việc này, các NHTM có thể gom được lượng tiền mặt tương đối lớn trong nền kinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu thông.
Từ đây, vốn NH lại được dùng để đầu tư cho nền kinh tế, kích thích tăng sản phẩm xã hội, tạo công ăn việc làm, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ. Trên cơ sở phát hành các giấy tờ có giá (GTCG) như Chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu.NHTM đã tạo hàng hóa cho thị trường vốn, thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán tại các quốc gia. Đối với bản thân NHTM Như đã phân tích ở trên, nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh NH. Đối với các NHTM ở nước ta, vốn huy động thường chiếm tỷ trọng từ 70%-90% tổng nguồn vốn.
Do vậy công tác HĐV luôn là hoạt động mà bất kỳ NHTM nào đều rất quan tâm. HĐV là nghiệp vụ truyền thống nhằm không ngừng mở rộng nguồn vốn trong kinh doanh, nó vừa là khâu mở đường và cũng là điểm mấu chốt của một NH.