ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm quanh khớp vai theo một số nghiên cứu gần đây có dấu hiệu tăng nguyên nhân do thói quen sử dụng thƣờng xuyên các thiết bị điện tử và tăng các yếu tố bệnh lý nội tiết - chuyển hóa nhƣ bệnh đái tháo đƣờng, gout, viêm khớp dạng thấp. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên với những biểu hiện trên lâm sàng thƣờng là đau và hạn chế vận động khớp vai. Tổn thƣơng của bệnh viêm quanh khớp vai là tổn thƣơng phần mềm quanh khớp mà chủ yếu là gân, cơ, dây chằng và bao khớp. Viêm quanh khớp vai không bao gồm những bệnh có tổn thƣơng đặc thù của đầu xƣơng, sụn khớp, màng hoạt dịch nhƣ viêm khớp, chấn thƣơng.
Bệnh thƣờng gặp ở ngƣời lớn tuổi, cả nam và nữ. Bệnh tuy không ảnh hƣởng tới tính mạng nhƣng thƣờng diễn biến kéo dài nhiều tháng thậm chí nhiều năm gây đau đớn, hạn chế vận động của bệnh nhân. Nếu không đƣợc điều trị đúng và đầy đủ ngay từ đầu, có thể để lại di chứng teo cơ, giảm trƣơng lực cơ, hạn chế cử động vai và bàn tay, đứt gân từ đó làm mất chức năng tay bên bệnh, ảnh hƣởng tới hoạt động hàng ngày công việc và cả nghỉ ngơi. Tỉ lệ tái phát sau điều trị khỏi khoảng 20% [2].
Theo YHCT, bệnh viêm quanh khớp vai thuộc phạm vi chứng Kiên tý. Dựa và triệu chứng lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh, bệnh đƣợc chia làm 3 thể: kiên thống, kiên ngƣng và hậu kiên phong [4],[5]. Cả 3 thể bệnh trên có nhiều phƣơng pháp điều trị sử dụng kết hợp cả YHHĐ và YHCT. Điều trị viêm quanh khớp vai bằng nội khoa, y học hiện đại chủ yếu sử dụng nhóm thuốc kháng viêm, giảm đau, giãn cơ hoặc phục hồi chức năng.
Tuy nhiên chƣa có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả lâu dài cũng nhƣ chƣa có phác đồ cụ thể đƣợc khuyến cáo [2]. Hơn nữa khi các nhóm thuốc này đƣợc dùng điều trị cho bệnh nhân lại có những hạn chế do tác dụng không mong muốn nhƣ: viêm loét dạ dày, loãng xƣơng, giảm sức đề kháng, tổn thƣơng gan, thận, suy tủy. làm cho bệnh nhân không thể sử dụng dài ngày hoặc 2 thậm chí là không thể sử dụng đƣợc [2]. Do đó việc tìm ra phƣơng pháp đơn giản, hiệu quả và an toàn là vấn đề cần đặt ra.
Những phƣơng pháp dùng ngoài, đặc biệt là sử dụng tinh chất từ thảo dƣợc thiên nhiên kết hợp với xoa bóp bấm huyệt, điện châm và một số thủ thuật y học cổ truyền khác ngày càng chứng tỏ nhiều lợi ích và hiệu quả cao. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của dung dịch XOA BÓP GS - TVB kết hợp xoa bóp bấm huyệt, điện châm điều trị bệnh nhân viêm quanh khớp vai thể đơn thuần” nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá hiệu quả điều trị của dung dịch XOA BÓP GS – TVB kết hợp xoa bóp bấm huyệt và điện châm trên bệnh nhân viêm quanh khớp vai thể đơn thuần. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phƣơng pháp điều trị kết hợp dung dịch XOA BÓP GS - TVB và điện châm trên lâm sàng.
3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1. Tổng quan về viêm quanh khớp vai 1.1 Sơ lƣợc về giải phẫu chức năng khớp vai Khớp vai là khớp linh hoạt của cơ thể, nhƣng cũng dễ bị tổn thƣơng nhất vì bao khớp mỏng, lỏng lẻo, dây chằng không đủ chắc và cũng do động tác của khớp đa dạng, biên độ lớn gồm các động tác của cánh tay (ra trƣớc, ra sau, lên trên, vào trong, ra ngoài, xoay tròn) và động tác của riêng vai (lên trên, ra trƣớc, ra sau) [2], [6]. Có đƣợc nhiều động tác nhƣ vậy là do khớp vai có cấu tạo rất phức tạp với sự tham gia của nhiều xƣơng, khớp, gân, cơ, dây chằng [9], [10].1 Phần xƣơng khớp (hình 1. Cấu tạo phần xƣơng của khớp vai [38] 4 - Khớp vai cấu tạo bởi 3 xƣơng (xƣơng bả vai, xƣơng đòn, chỏm xƣơng cánh tay) và 5 khớp sau [2], [6], [11], [12].
+ Khớp giữa ổ chảo xƣơng bả vai và chỏm xƣơng cánh tay. Đây là khớp lớn nhất và quan trọng nhất. + Khớp giữa mỏm cùng vai và chỏm xƣơng cánh tay: khớp này bao gồm cả bao thanh mạc dƣới mỏm cùng vai và bao thanh mạc dƣới cơ delta. + Khớp giữa xƣơng bả vai và lồng ngực.
+ Khớp cùng vai đòn: khớp giữa mỏm cùng vai và đầu ngoài xƣơng đòn. + Khớp ức đòn: khớp giữa xƣơng ức và đầu trong xƣơng đòn. - Động tác: khớp vai có thể quay 3 trục thẳng góc với nhau nên động tác rất rộng rãi [37]: + Quanh trục trƣớc- sau: Giạng 180°, khép 0° (tầm 180°) + Quanh trục ngang: Gập trƣớc 180°, duỗi sau 50° (tầm 230") + Quanh trục thẳng đứng: Xoay trong 90°, xoay ngoài 90° (tầm 180°). Động tác xoay vòng là kết quả phối hợp của các động tác quanh 3 trục trên.
Phần mềm Hình 1. Các thành phần liên quan khớp vai diện cắt đứng [38] - Bao khớp: (hình 1.2) Bao khớp rất mỏng và có kích thƣớc lớn, ở trên bám vào xung quanh sụn viền (gờ ổ chảo), ở dƣới bản quanh đầu trên xƣơng cánh tay: nửa trên ở cổ giải phẫu, nửa dƣới ở cổ phẫu thuật, cách sụn khớp độ 1 cm. - Dây chằng: (hình 1.2) + Dây chằng ổ chảo - cánh tay: đi từ ổ chảo đến đầu trên xƣơng cánh tay, gồm 3 dây: dây trên, dây giữa và dây dƣới. + Dây chằng cùng - quạ: đi từ mỏm cùng vai tới mỏm quạ.
+ Dây chằng quạ - đòn: đi từ mỏm quạ tới xƣơng đòn + Dây chằng quạ - cánh tay: đi từ mỏm quạ tới đầu trên xƣơng cánh tay, có 2 nhánh chắc và khỏe. Cấu tạo gân cơ quay và các cơ tham gia vào hoạt động của khớp vai [38] Phần cơ, gân (hình 1.3): Các cơ quanh khớp vai nhƣ một tấm khăn bằng gân phủ chùm lên xƣơng cánh tay, có chức năng cố định đầu trên xƣơng cánh tay, hƣớng tâm chỏm xƣơng cánh tay với ổ chảo. + Cơ delta: đi từ gai vai, 1/3 ngoài xƣơng đòn tới ấn delta ở mặt trong xƣơng cánh tay. Động tác: gập vai, giạng cánh tay, xoay cánh tay vào trong hay ra ngoài.
+ Cơ ngực to, cơ lƣng to, cơ tròn to: đi từ ngực hoặc lƣng tới 2 mép của rãnh cơ nhị đầu xƣơng cánh tay. Động tác: khép và xoay trong cánh tay. + Cơ nhị đầu: gồm 2 bó, bó ngắn đi từ mỏm quạ xƣơng bả vai, bó dài đi từ diện trên ổ chảo chui qua rãnh nhị đầu cùng với bó ngắn bám tận vào lồi củ xƣơng quay. Động tác: gấp cẳng tay vào cánh tay.
+ Cơ trên gai, cơ dƣới gai, cơ tròn nhỏ: đi từ hố trên gai, hố dƣới gai, cạnh ngoài xƣơng bả vai tới mấu động lớn. Động tác: giang và xoay cánh tay ra ngoài. + Cơ dƣới vai: đi từ mặt trƣớc xƣơng bả vai tới mấu động nhỏ xƣơng cánh tay. Động tác xoay cánh tay vào trong.
7 Gân của 4 cơ này (cơ trên gai, cơ dƣới gai, cơ tròn nhỏ, cơ dƣới vai) hợp thành chụp của các cơ xoay bao bọc chỏm xƣơng cánh tay, đây là phần hay bị tổn thƣơng nhất. - Hệ thống bao thanh mạc dƣới mỏm cùng vai (hình 1. Cấu tạo bao khớp, mạch máu và thần kinh khớp vai [38] Gồm có bao thanh mạc dƣới mỏm cùng và bao thanh mạc dƣới cơ delta, nằm giữa các cơ delta và chụp các cơ xoay, hệ thống này giúp cho hệ vận động của các cơ xoay, trong khi đó ở phía trên nó dính lỏng lẻo vào cơ delta. Do đó, khi bao thanh mạc bị tổn thƣơng sẽ làm hạn chế vận động của khớp vai.
Vì thế bao thanh mạc này đƣợc gọi là “khớp phụ" dƣới mỏm cùng [6], [36]. - Mạch máu và thần kinh: Các thành phần của khớp vai đƣợc nuôi dƣỡng bởi các ngành lên và ngành tận của bó mạch thần kinh cánh tay. Ngoài ra, vùng khớp vai còn liên quan đến các rễ thần kinh của vùng cổ và phần trên của lƣng, liên quan đến các hạch giao cảm cổ, ở đây có những đƣờng phản xạ ngắn, vì vậy khi có một tổn thƣơng gây kích thích ở vùng đốt sống cổ, vùng trung thất, lồng ngực đều có thể gây nên các dấu hiệu ở vùng khớp vai [6]. Viêm quanh khớp vai theo YHHD 1.
Định nghĩa Viêm quanh khớp vai là một bệnh bao gồm những trƣờng hợp đau và hạn chế vận động khớp vai mà tổn thƣơng chủ yếu là phần mềm quanh khớp nhƣ gân, cơ, dây chằng và bao khớp. Không bao gồm những bệnh có tổn thƣơng đặc thù của đầu xƣơng, sụn khớp và màng hoạt dịch [2], [6]. Cơ chế bệnh sinh viêm quanh khớp vai Tổn thƣơng hay gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thƣơng gân của các cơ xoay, bó dài gân cơ nhị đầu, bao thanh mạc dƣới mỏm cùng [2], [3]. Gân là tổ chức có tính chất đặc biệt về quá trình dinh dƣỡng và chuyển hóa.
Những mạch máu đi từ cơ, xƣơng, tổ chức quanh gân chỉ đi tới lớp ngoài cùng của bó gân thứ hai. Do vậy bó gân thứ nhất, các tế bào xơ, sợi collagen đƣợc coi là tổ chức dinh dƣỡng hoàn toàn bằng con đƣờng thẩm thấu. Vì thế gân đƣợc coi là tổ chức dinh dƣỡng chậm. Các gân xung quanh khớp vai có thể bị tổn thƣơng do những nguyên nhân sau [6], [9].
* Giảm lƣu lƣợng máu tới gân Vùng gân ít đƣợc cung cấp máu sinh lý là gần điểm bám tận do sự chật hẹp của khoang dƣới mỏm cùng và sự bám rất chặt của gân vào xƣơng. Sự giảm tƣới máu do quá trình thoái hóa theo tuổi, do bệnh làm thay đổi cấu trúc và tính thẩm thấu của thành mạch (đái tháo đƣờng, vữa xơ động mạch.) * Chấn thƣơng cơ học Gân bị tổn thƣơng có thể do các chấn thƣơng cấp tính, mạn tính, nhƣng trong bệnh viêm quanh khớp vai phần lớn các thƣơng tổn là do các vi chấn thƣơng lặp đi lặp lại nhiều lần. Ở tƣ thế dạng tay, đặc biệt là từ 70-130o, đƣa tay lên cao quá đầu, mấu động lớn sẽ cọ xát vào mặt dƣới mỏm cùng làm cho khoang dƣới mỏm cùng vốn đã hẹp lại càng hẹp hơn và chụp của các cơ xoay bị kẹp giữa hai xƣơng nhƣ hai gọng kìm. Ở trong tƣ thế khép tay, mặt tiếp xúc của ổ chụp với các xƣơng xoay bị ép chặt bởi chỏm xƣơng cánh tay.
Sự ép chặt này không những tạo ra những kích thích về cơ học mà còn giảm lƣu lƣợng máu cung cấp cho gân.