MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình toàn cầu hóa, thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các liên kết kinh tế hình thành ngày càng nhiều đã tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế chung của toàn cầu. Điều này được thể hiện thông qua tổng giá trị thương mại của thế giới tăng dần qua các năm.
Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới là 20.895 tỷ đô la Mỹ, con số này là 22.966 tỷ đô la Mỹ vào năm 2017, năm 2018 tăng 9,45% so với năm 2017, đạt 25.137 tỷ đô la Mỹ. Tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới năm 2018 cũng tăng trưởng 9,92% so với năm 2017, theo Ngân hàng thế giới. Sự tăng trưởng của thương mại quốc tế là động lực quan trọng trong sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh hình thành các liên kết kinh tế khu vực lớn trên thế giới như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)…, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) cũng hình thành với sự tham gia của 12 thành viên ban đầu vào năm 19891, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển khu vực, tạo sự thịnh vượng hơn cho người dân trong khu vực bằng việc thúc đẩy sự tăng trưởng cân bằng, toàn diện, bền vững, cải tiến và an toàn trong kinh tế khu vực.
Với sự tham gia của các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, APEC đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Hợp tác và trao đổi thương mại của 21 nước thành viên APEC chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu. Năm 2017, các nước APEC đóng góp 47% thương mại thế giới về hàng hóa và dịch vụ toàn cầu, tỷ lệ tăng trưởng thương mại của APEC đạt tốc độ tăng trưởng cao; trong đó, giá trị xuất khẩu tăng 6,0%, giá trị nhập khẩu tăng trưởng 6,6% so với năm trước đó, tỷ lệ tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của các 1 Hiện nay, APEC có 21 nước thành viên, bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Australia (Ôt-xtrây-lia/Úc), New Zealand (Niu Di-lân), Canada (Ca-na-đa), Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines (Phi-lip-pin), Singapore (Xinh-ga-po), Brunei (Bru-nây), Indonesia (In-đô-nê-xia), Malaysia (Ma-lai-xia), Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Papua New Guinea (Pa-pua Niu Ghi-nê), Mexico (Mê-hi-cô), Chile (Chi-lê), Việt Nam, Nga và Peru (Pê-ru). 2 nước thành viên APEC đều cao hơn mức tăng trưởng trung bình chung của thế giới, theo thông tin của APEC tại https://www.
Đồ thị 1: Sự tăng trưởng kim ngạch thương mại của APEC năm 2017 (% thay đổi hàng năm) Nguồn: https://www.org Đồ thị trên cho thấy đa số các nước đều có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng, mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trung bình của thế giới; trong đó, các nước có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng của các nước trong diễn đàn bao gồm Việt Nam, Phillipines, Malaysia, Peru… Kim ngạch nhập khẩu của các nước đều tăng trưởng trong năm 2017, trong đó Papua New Giunea có tỷ lệ nhập khẩu cao vượt trội so với các thành viên khác. Trao đổi thương mại trong nội bộ của các nước thuộc diễn đàn chiếm tỷ trọng lớn so với phần còn lại của thế giới. Theo số liệu từ trang thông tin của APEC, năm 2017, thương mại nội khối APEC chiếm 69,4% tổng giá trị thương mại của khối APEC, trong đó tổng giá trị xuất khẩu của APEC là 8,8 tỷ đô la Mỹ, tổng giá trị nhập khẩu đạt 8,9 tỷ đô la Mỹ. Trong thương mại nội khối APEC, các nước lớn chiếm tỷ lệ cao trong giá trị xuất khẩu và nhập khẩu nội khối.
Đối với xuất khẩu, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản 48,7% trong khối; Mỹ, Trung Quốc và Hồng Kông chiếm 51,8% giá trị nhập khẩu trong khối. 3 Đồ thị 2: Giá trị thương mại hàng hóa của APEC (nghìn tỷ đô la Mỹ), 2000 – 2017 Nguồn: https://www.org Tham gia từ năm 1998, quan hệ thương mại của Việt Nam với các thành viên của APEC ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các thành viên APEC đến hết tháng 10 năm 2017 tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 23,9% và nhập khẩu tăng 22% so với cùng kỳ năm trước đó. Như vậy, APEC góp phần lớn trong sự tăng trưởng thương mại của Việt Nam.
Nhận thấy vai trò quan trọng của APEC trong thương mại Việt Nam, tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)” để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại song phương của Việt Nam với các nước thành viên APEC. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu chung: nghiên cứu thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), trong đó thương mại song phương bao gồm tổng thương mại song phương, xuất khẩu và nhập khẩu để từ đó góp phần nghiên cứu cán cân thương mại của Việt Nam và APEC. 4 - Mục tiêu cụ thể: + Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến thương mại song phương, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). + Đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến thương mại song phương, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
+ Đề xuất hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên APEC. Đối tƣợng nghiên cứu Thương mại song phương giữa Việt Nam với các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Từ thời điểm Việt Nam tham gia WTO năm 2008 đến 2018. - Về không gian: Thương mại của Việt Nam với các nước thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
Số liệu nghiên cứu Số liệu thứ cấp từ World Bank (WB), WTO, IMF, Tổng cục thống kê, Tổng cục Hải quan. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá: được sử dụng để tổng hợp các cơ sở dữ liệu về mô hình trọng lực, các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại song phương, từ đó đề xuất mô hình để phân tích cán cân thương mại song phương của Việt Nam với các đối tác thương mại APEC. - Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh sự biến động của các biến theo thời gian, từ đó đánh giá xu hướng ảnh hưởng của các biến. - Thống kê mô tả sự biến động của cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên APEC.
5 - Dựa vào mô hình nghiên cứu đề xuất, luận văn tiến hành chạy mô hình hồi quy trên phần mềm Stata để xác định sự phù hợp và mức độ tác động của các nhân tố đến cán cân thương mại song phương của Việt Nam với các đối tác thuộc APEC. Dữ liệu nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng để xem xét sự thay đổi theo không gian và thời gian. Các biến được xem xét trong khoảng thời gian 11 năm (từ năm 2008 đến năm 2018) với 17 quốc gia trong khối APEC2. Tổng cộng nghiên cứu có 11*17 = 187 quan sát.
Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp. Để đảm bảo tính khách quan của cơ sở dữ liệu, dữ liệu thu thập sẽ được rà soát và kiểm tra giữa các nguồn khác nhau để đảm bảo tính chính xác của bộ dữ liệu trước khi tính toán. 2 Do dữ liệu thống kê thương mại của Papua New Guinea, Brunei và Đài Loan không đầy đủ, không thể áp dụng để chạy mô hình hồi quy nên mô hình hồi quy được ước lượng dựa trên số liệu thống kê thương mại của 17 đối tác thương mại còn lại trong khối APEC. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Những mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến thƣơng mại Theo phương pháp nghiên cứu, hoạt động thương mại được phân tích theo phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Phương pháp định tính phân tích dựa vào sự phân tích lý luận và kinh nghiệm của người nghiên cứu nên phù hợp với các nhân tố không khó hoặc không đo lường được. Trong khi đó, phương pháp định lượng cố gắng sử dụng mô hình để lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động thương mại song phương giữa các quốc gia. Một số mô hình chính được sử dụng bao gồm: 1.
Mô hình SMART Mô hình SMART (Software for Market Analysis and Restrictions on Trade – phần mềm phân tích thị trường và rào cản thương mại) được phát triển bởi Jammes và Olarreaga (2005). Mô hình này là phần mềm của hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm về thương mại WITS (World Integrated Trade Solutions) do Ngân hàng thế giới phát triển. Mô hình này tập trung vào một thị trường nhập khẩu và các đối tác xuất khẩu của thị trường đó để đánh giá tác động của việc thay đổi thuế quan trong các hiệp định thương mại tự do đối với thị trường đó, thông qua việc ước tính các giá trị mới bao gồm tác động tạo lập thương mại, chuyển hướng thương mại, thương mại ròng, thay đổi trong thu thuế quan và thay đổi trong thặng dư tiêu dùng. Tuy nhiên mô hình này sử dụng phương pháp cân bằng bộ phận và bỏ qua tác động của các thị trường khác.
Hơn nữa, mô hình phụ thuộc nhiều vào giả định và các hệ số đặt ra để ước lượng mô hình. Mô hình GTAP GTAP (Global Trade Analysis Project - mô hình phân tích thương mại toàn cầu) là mô hình cân bằng tổng thể do Hertel (1999) phát triển.