Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài. Nội dung chương này trình bày về lý do chọn đề tài; tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn và kết cấu các chương của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung của chương này trình bày cơ sở lý thuyết như: các khái niệm, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng nhìn từ góc độ của marketing mix (4P).
Tiếp theo, tác giả 8 giới thiệu về siêu thị Co. HCM bao gồm: lịch sử hình thành và phát triển, chiến lược marketing mix (4P) đối với ngành hàng TPTS tại siêu thị và tình hình tiêu dùng TPTS của người tiêu dùng tại đây. Sau đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu ban đầu, xây dựng giả thuyết nghiên cứu và thang đo cho các yếu tố trong mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chương này bao gồm 3 phần. Đầu tiên là thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện thông qua hai phương pháp: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Tiếp theo, tác giả trình bày kết quả của nghiên cứu định tính: những biến quan sát nào bị loại bỏ và những biến nào được chỉnh sửa, bổ sung vào thang đo của các yếu tố. Cuối cùng là nghiên cứu chính thức: tác giả đưa ra thang đo cho bảng câu hỏi sau khi nghiên cứu định tính đồng thời mã hóa thang đo và thiết kế mẫu cho nghiên cứu.
Chương 4: Xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu. Nội dung chương này trình bày về thông tin mẫu nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố cho các biến độc lập và biến phụ thuộc. Tiếp theo, phân tích hồi quy đa biến, kiểm định giả thuyết và sự phù hợp của mô hình được thực hiện. Kiểm định T-test và phân tích ANOVA (Analysis of variance) để tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của một vài nhóm cụ thể đối với quyết định mua TPTS của người tiêu dùng.
Cuối cùng, kiểm định trung bình các yếu tố để xem xét sự đánh giá của người tiêu dùng đối với các hoạt động liên quan đến sản phẩm, giá cả, phân phối, chiêu thị tại Co. HCM đồng thời biết được người tiêu dùng có ưu tiên mua TPTS tại siêu thị Co.opmart hay không. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Dựa trên kết quả nghiên cứu từ chương 4, trong chương này tác giả nêu lên kết luận và một số kiến nghị đối với Ban Lãnh Đạo siêu thị Co.
Đồng thời, tác giả nêu ra một số đóng góp và hạn chế của đề tài cũng như đề nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung của chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết như: giới thiệu khái niệm về hành vi mua sắm của người tiêu dùng, khái niệm thực phẩm tươi sống, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng nhìn từ góc độ của marketing mix (4P). Tiếp theo, tác giả giới thiệu về siêu thị Co. HCM bao gồm: lịch sử hình thành và phát triển, chiến lược marketing mix (4P) tại siêu thị và tình hình tiêu dùng TPTS của người tiêu dùng tại đây.
Sau đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu ban đầu, xây dựng giả thuyết nghiên cứu và thang đo cho các yếu tố trong mô hình.1 Khái niệm về hành vi mua sắm của người tiêu dùng Trong kinh doanh, muốn xây dựng được một kế hoạch marketing hiệu quả, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu cặn kẽ thị trường mục tiêu và hành vi của người tiêu dùng ở thị trường đó. Vì vậy, việc thấu hiểu và xác định được đúng hành vi của người tiêu dùng là một trong những nhiệm vụ quan trọng giúp doanh nghiệp có quyết định phù hợp, chính xác cho hoạt động kinh doanh của đơn vị mình. Theo Kotler và Keller (2011) thì hành vi mua hàng của người tiêu dùng là nghiên cứu về cách mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng hay kinh nghiệm của các cá nhân, nhóm và tổ chức trong đặt hàng để đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ. Người tiêu dùng thường đưa ra nhiều quyết định mua hàng hằng ngày và các quyết định này của người tiêu dùng là thông tin cực kỳ quan trọng đối với người làm marketing.
Như vậy, những người làm marketing cần phải hiểu để nắm rõ hơn những thông tin liên quan đến việc mua sắm của người tiêu dùng như: họ là ai, họ mua gì, họ mua như thế nào, ở đâu, khi nào và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing nhằm thúc đẩy người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình. 10 Philip Kotler (1997) đã hệ thống hành vi mua hàng của người tiêu dùng qua mô hình sau: Các yếu tố Các tác Đặc điểm Quy trình quyết Quyết định của kích thích nhân kích của người định của người người mua tiếp thị thích khác mua mua - Sản phẩm - Kinh tế - Văn hóa - Xác định vấn đề - Chọn sản phẩm - Giá cả - Công - Xã hội - Tìm kiếm thông - Chọn nhãn hiệu - Phân nghệ - Cá tính tin - Chọn đại lý phối - Chính trị - Tâm lý - Đánh giá - Thời gian mua - Chiêu thị - Văn hóa - Quyết định - Số lượng mua - Hành vi hậu mãi Hình 2.1: Mô hình chi tiết hành vi của người mua (Nguồn: Philip Kotler (1997), Quản trị Marketing, NXB Thống Kê, Hà Nội, tr.1 cho thấy, các yếu tố tiếp thị như sản phẩm, giá cả, phân phối, chiêu thị và những kích thích bên ngoài như môi trường kinh tế, công nghệ, chính trị, văn hóa tác động và đi vào ý thức của người tiêu dùng. Cùng với các đặc điểm của người mua: văn hóa, xã hội, cá tính, tâm lý và quá trình quyết định của người mua như: xác định vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá vấn đề dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định như: chọn sản phẩm, nhãn hiệu, đại lý, số lượng, thời gian mua, … 2.2 Khái niệm thực phẩm tươi sống Theo Luật an toàn thực phẩm: “Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thủy hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến” (Bộ luật về An toàn thực phẩm được Quốc hội ban hành số 55/2010/QH12, điều 2). Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ giới hạn khảo sát các sản phẩm thuộc ngành hàng thực phẩm tươi sống theo Bộ luật an toàn thực phẩm quy định.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng nhìn từ góc độ của marketing mix (4P) 2.1 Sản phẩm Philip Kotler và Gary Amstrong (2012) đưa ra khái niệm sản phẩm là “các hàng hóa hay dịch vụ mà công ty đưa ra thị trường mục tiêu”.
Theo đó thì yếu tố sản phẩm bao gồm các thành phần: chủng loại, chất lượng sản phẩm, hình dáng, thiết kế, đặc tính, bao bì, nhãn hiệu và dịch vụ. Philip Kotler (2001) cũng có khái niệm về sản phẩm “là tất cả những cái gì có thể thõa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua, sử dụng hay tiêu dùng”. Đó có thể là những vật thể hữu hình, dịch vụ, người, mặt bằng, tổ chức và ý tưởng.2 Giá cả Theo Philip Kotler và Gary Amstrong (2012), giá cả là “tổng số tiền mà người tiêu dùng phải trả để nhận được sản phẩm”. Như vậy, việc định giá sao cho phù hợp với môi trường cạnh tranh là cực kỳ quan trọng, ngoài ra, các hoạt động kèm theo như: giảm giá, thanh toán như thế nào, … đều làm cho người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm nên nó có ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng.
Theo Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang (2003): “nhà marketing theo hướng định giá trên cơ sở khách hàng cho rằng giá cả đem lại lợi nhuận bằng cách định giá thương hiệu ở mức mà khách hàng mong muốn chi trả”. Thật vậy, mức giá mong muốn là giá mà người tiêu dùng sẽ quyết định xem giá của sản phẩm có phù hợp với mong muốn của họ hay không, sự cảm nhận giá của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua của họ. Khi người tiêu dùng mua một sản phẩm thì họ đổi một giá trị để lấy lại một giá trị mà sản phẩm mang lại cho họ. Do đó, người tiêu dùng luôn mong muốn giá cả phải phù hợp với sản phẩm.3 Phân phối Philip Kotler và Gary Amstrong (2012) cho rằng: “phân phối là những hoạt động của công ty để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng mục tiêu”.
Như vậy, có thể hiểu nó là các địa điểm mà người tiêu dùng có thể mua được, đó có thể là một cửa hàng vật lý hay một cửa hàng ảo trên mạng internet. Yếu tố phân phối bao gồm các thành phần: kênh bán, vị trí, tồn kho, vận chuyển và hậu cần.4 Chiêu thị Theo Philip Kotler và Gary Amstrong (2012) thì “chiêu thị là các hoạt động dùng để thông đạt và thúc đẩy sản phẩm đến người tiêu dùng mục tiêu”. Có rất nhiều công cụ chiêu thị mà nhà marketing có thể sử dụng để quảng bá sản phẩm của mình. Một cách tổng quát ta có thể chia thành 5 nhóm chính: • Quảng cáo (advertising): là dạng thông tin những ý tưởng, thương hiệu đến thị trường mục tiêu thông qua một kênh trung gian.
Phương thức truyền tin này gián tiếp (thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng). Có nhiều kênh quảng cáo như: tivi, radio, báo chí, panô, … Quảng cáo thường nhắm đến thị trường mục tiêu rộng lớn. • Khuyến mại bán hàng (sales promotion): là các dạng kích thích tiêu dùng, thường là ngắn hạn. Có nhiều dạng khuyến mại bán hàng được sử dụng như: quà tặng, chiết khấu, mua một tặng một, xổ số, bốc thăm trúng thưởng, hội chợ triển lãm, … • Chào hàng cá nhân (personal selling): là dạng quảng bá, thuyết phục khách hàng thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa đội ngũ bán hàng của công ty và khách hàng mục tiêu.
13 • Marketing trực tiếp (direct marketing): là dạng chiêu thị sử dụng thư, e-mail, fax để chuyển tải thông tin đến từng đối tượng khách hàng. • Quan hệ cộng đồng (public relations): là dạng quảng bá công ty hay thương hiệu thông qua các chương trình tài trợ như thể thao, thời trang, đố vui để học, chương trình từ thiện, tham gia các hoạt động cộng đồng, … 2.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 2.1 Giới thiệu về siêu thị Co.