ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 1952, Wullstein phát triển một kĩ thuật trong phẫu thuật hạ tƣờng để tiếp cận trung nhĩ và hạ nhĩ từ một khoảng tam giác nằm giữa thần kinh VII và thần kinh thừng nhĩ1. Sau đó, Jasen áp dụng kĩ thuật này để bảo tồn thành sau trên của ống tai và đến năm 1958, Jansen lần đầu tiên mô tả kĩ thuật mở hòm nhĩ từ phía sau hay còn gọi là tiếp cận ngách mặt2. Kĩ thuật này cho phép mở đƣờng tiếp cận vào xoang nhĩ, giúp mở phẫu trƣờng quan sát vào trung nhĩ sau và trên, và bộc lộ tốt hơn mặt hòm nhĩ của thần kinh mặt, giúp tiếp cận gò tháp, xƣơng bàn đạp và cửa sổ tròn1,3. Vùng này đƣợc giới hạn bởi phía trên là trụ đe, phía ngoài là thần kinh thừng nhĩ và phía trong là đoạn xuống hay đoạn chũm của thần kinh mặt4.
Mở ngách mặt thƣờng đƣợc thực hiện trong phẫu thuật tai điều trị cholesteatoma giữ tƣờng, mở hòm nhĩ đƣờng phối hợp, cấy điện cực ốc tai cũng nhƣ thiết bị cấy ghép trong hòm nhĩ. Do kĩ thuật này đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và phổ biến trong phẫu thuật tai cũng nhƣ sự liên quan mật thiết của nó với các cấu trúc quan trọng nhƣ thần kinh mặt nên cần phải có những nghiên cứu phân tích kĩ lƣỡng về các mốc giải phẫu liên quan đến ngách mặt. Hai bề mặt của tam giác ngách mặt không thể quan sát đƣợc từ phía sau, điều này trở thành một vấn đề khi khoan xƣơng. Đoạn chũm của thần kinh mặt và thần kinh thừng nhĩ có thể bị tổn thƣơng trong trƣờng hợp ngách mặt hẹp hay mở ngách mặt không đầy đủ.
Biến chứng này thƣờng xảy ra do không hiểu đầy đủ về giải phẫu của ngách mặt biến thể giải phẫu của thần kinh mặt đoạn chũm, vì thế đánh giá trên hình ảnh học về cấu trúc giải phẫu và các biến thể giải phẫu đƣờng đi thần kinh mặt, những cấu trúc xung quanh có thể ảnh hƣởng đến trƣờng phẫu thuật để quan sát hay tiếp cận ngách mặt là vô cùng quan trọng để hạn chế tối đa nguy cơ gây tổn thƣơng thần kinh mặt. Liệt thần kinh mặt trong phẫu thuật cấy điện cực ốc tai đƣợc báo cáo với tỉ lệ từ 1-3%5, một vài tài liệu báo cáo tỉ lệ thấp hơn từ 0,7% đến dƣới 1%6. Sự hiểu biết về các mối liên quan của thần kinh mặt với các mốc phẫu thuật lân cận có thể giúp tránh biến chứng này. 2 Thành sau là thành cao nhất của tai giữa, có kích thƣớc khoảng 14mm7.
Nó đƣợc tạo chủ yếu bởi xƣơng đá. Thành sau ngăn cách giữa hòm nhĩ với các tế bào chũm, ngoại trừ vùng sào đạo, là nơi thông thƣơng giữa thƣợng nhĩ và sào bào. Thành sau đƣợc chia thành hai phần riêng biệt: một phần ba trên tƣơng ứng với sào đạo và tạo thành giới hạn sau của thƣợng nhĩ và hai phần ba dƣới tƣơng ứng với thành sau của xoang nhĩ sau8. Hai thành phần này đƣợc ngăn cách bởi trụ đe, đây là một cấu trúc xƣơng đặc đi từ phía ngoài khung nhĩ đến phía trong ống bán khuyên ngoài.
Mặt trên trụ đe bao gồm hố đe là nơi chứa cành ngắn xƣơng đe7. Trụ đe thƣờng đƣợc chọn là mốc phẫu thuật trong phẫu thuật mở ngách mặt9 bởi vì đây là một cấu trúc xƣơng đặc8, ít bị tổn thƣơng trong quá trình viêm mạn tính hay cholesteatoma trong hòm nhĩ cũng nhƣ mối liên quan mật thiết giữa nó với các cấu trúc lân cận7. Việc đánh giá mối tƣơng quan giữa trụ đe và các trúc lân cận trên CT scan trƣớc phẫu thuật góp phần thực hiện phẫu thuật trở nên thuận lợi hơn và giảm tổn thƣơng đến các cấu trúc quan trọng. Vấn đề đặt ra là “Khoảng cách từ trụ đe đến các cấu trúc lân cận trong hòm nhĩ nhĩ nhƣ: cửa sổ tròn, trần hòm nhĩ, chỗ thoát ra khỏi thần kinh mặt của thần kinh thừng nhĩ,… là bao nhiêu?”.
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đào sâu vào việc phân các cấu trúc giải phẫu liên quan đến kĩ thuật mở ngách mặt tiến hành trong phẫu thuật, phẫu tích xác cũng nhƣ khảo sát trên phim CT scan xƣơng thái dƣơng. Tại Việt Nam chúng tôi chƣa tìm thấy tìm thấy nhiều các tài liệu có số liệu thống kê cụ thể về vấn đề này. Với mục đích chính là góp phần cung cấp dữ liệu để xác định sự phân bố tần suất của khoảng cách này trong xƣơng thái dƣơng bình thƣờng trên CT scan để tính toán mức trung bình của dân số và độ lệch chuẩn, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu “ Khảo sát khoảng cách giữa trụ đe và các cấu trúc lân cận trong hòm nhĩ trên CT scan xƣơng thái dƣơng”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu tổng quát: Khảo sát khoảng cách giữa trụ đe và các cấu trúc lân cận trong hòm nhĩ trên CT scan xƣơng thái dƣơng tại bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM từ năm 2022 đến năm 2023. Mục tiêu chuyên biệt: Khảo sát trên CT scan xƣơng thái dƣơng bình thƣờng: 1. Khoảng cách giữa trụ đe và cửa sổ tròn. Khoảng cách giữa trụ đe tới trần hòm nhĩ.
Khoảng cách giữa trụ đe tới chỗ thoát ra khỏi thần kinh mặt của thừng nhĩ. Chiều rộng tam giác ngách mặt. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU HÕM NHĨ Tai giữa là một khoang rỗng chứa khí nằm trong vùng trung tâm của xƣơng thái dƣơng, nằm giữa ống tai ngoài phía ngoài và tai trong nằm phía trong.
Nó nằm ở chỗ giao nhau giữa hai trục quan trọng là: thứ nhất là trục ngoài trong giữa ống tai ngoài và ống tai trong, thứ hai là trục sau trƣớc giữa hang chũm và vòi Eustachian8. Để mô tả, hòm nhĩ có thể đƣợc xem nhƣ một hình hộp có 4 mặt, một đáy và một trần. Do tính lồi của thành ngoài và thành trong, vùng trung tâm của hòm nhĩ bị hẹp lại. Bề rộng của hòm nhĩ là 2mm ở trung tâm, phía trên là 6mm ở thƣợng nhĩ và phía dƣới là 4cm ở hạ nhĩ8.
Ở mặt phẳng sagittal, hòm nhĩ có kích thƣớc khoảng 15mm, cả theo chiều dọc và chiều ngang8 (Hình 1. Chú thích: VII: thần kinh mặt, CP: mỏm hình ốc Nguồn: “Mansour S, Magnan J, Haidar H, Nicolas K, Louryan S. Comprehensive and Clinical Anatomy of the Middle Ear. 5 Hòm nhĩ đƣợc bao bọc bởi 6 thành: thành ngoài, thành dƣới đƣợc gọi là sàn hay thành tĩnh mạch cảnh, thành sau hay thành xƣơng chũm, thành trên gọi là trần hòm nhĩ, thành trƣớc gọi là thành tĩnh mạch cảnh và thành trong hay còn gọi là thành ốc tai10.
Thành ngoài: Thành ngoài đƣợc tạo bởi màng nhĩ, khung nhĩ xƣơng và thành ngoài thƣợng nhĩ (Hình 1. Đây là thành duy nhất của hòm nhĩ, đặc biệt là màng nhĩ có thể đánh giá bằng cách khám lâm sàng và là vị trí của hầu hết các bệnh lý tai giữa. Thêm vào đó, thành ngoài cũng là đƣờng tiếp cận kinh điển trong phẫu thuật tai. Thành ngoài gồm phần trên là phần xƣơng, gọi là tƣờng thƣợng nhĩ hay thành ngoài thƣợng nhĩ, phần dƣới là phần màng nhĩ.
Màng nhĩ ngăn cách ống tai ngoài với tai giữa. Nó là một màng bán trong suốt, dạng gần một vòng tròn và có chiều rộng khoảng 8mm, cao 9-10mm, và dày 0,1mm8. Phần dƣới của màng nhĩ nằm phía trong hơn so với phần trên, màng nhĩ tạo nên một độ dốc khoảng 40 độ so với thành dƣới của ống tai ngoài. Cán búa gắn với trung tâm mặt trong của màng nhĩ và tạo nên phần trung tâm gọi là rốn nhĩ.
Sharpnell chia màng nhĩ thành hai phần, phần nhỏ phía trên gọi là màng chùng và phần lớn hơn phía dƣới gọi là màng căng. Màng căng là phần lớn nhất của màng nhĩ, dày ở ngoại biên tạo nên khung nhĩ sợi, gắn vào rãnh khung nhĩ. Màng chùng, hay còn gọi là màng Sharopnell’s, lỏng lẻo hơn, nằm ở khuyết Rivinus và gắn với tƣờng thƣợng nhĩ ngoài11 (Hình 1.2: Hình ảnh màng nhĩ trái. Chú thích: A: phần trƣớc và P: phần sau của khung nhĩ, 1: gai nhĩ trƣớc, 2: gai nhĩ sau, S:phần màng chùng.
Nguồn: “Mansour S, Magnan J, Haidar H, Nicolas K, Louryan S. Comprehensive and Clinical Anatomy of the Middle Ear. Thành dưới (thành tĩnh mạch cảnh): Sàn hòm nhĩ hẹp, bao gồm một mảnh xƣơng mỏng ngăn cách tai giữa với hành cảnh ở phía sau và động mạch cảnh ngoài ở phía trƣớc. Giữa động mạch và tĩnh mạch với thành trong, có một ống nhỏ là tiểu quản nhĩ dƣới, chứa thần kinh Jacobson là nhánh của thần kinh thiệt hầu (dây IX) và động mạch nhĩ dƣới.1 Phôi thai học thành sau: Thành sau phát triển từ sụn Reichert.
Thần kinh mặt phát triển trong một rãnh thuộc bao tai trong. Vào tuần thứ 20, có thể xác định ống thần kinh mặt tốt hơn bằng những mô sợi phía ngoài vì bao tai trong cốt hóa từ phía trong. Sụn Reichert tiếp tục tồn tại nhƣ một mào sụn chen giữa bao tai trong và thần kinh mặt ở phía trong và khung nhĩ sợi ở phía ngoài12. Sự cốt hóa bắt đầu từ mào sụn này và tiếp tục ở phía giữa cả ngoài và trong đến mào sụn này, tạo thành ống thần kinh mặt và thành sau của tai giữa.
Dấu vết của mào sụn Reichert thƣờng tồn tại vào thời điểm sinh, sự cốt hóa đƣợc ngăn cách từ xung quanh trung mô. Thành sụn đầu tiên của thành ống thần kinh mặt là màng sau nối với màng trong, nguyên thủy của gân bàn đạp8 (Hình 1.3: Lát cắt coronal của phôi thai ngƣời 15.5mm, nhuộm Hematoxylin-eosin. Chú thích: Hình ảnh laterohyale (mũi tên) che phủ thần kinh VII nguyên thủy (*), liên quan với sụn Reichert. Nguồn: “Mansour S, Magnan J, Haidar H, Nicolas K, Louryan S.
Comprehensive and Clinical Anatomy of the Middle Ear.2 Giải phẫu thành sau Thành sau là thành cao nhất của hòm nhĩ, khoảng 14mm8. Nó đƣợc tạo chủ yếu bởi xƣơng đá. Thành sau ngăn cách hõm nhĩ với các tế bào chũm, ngoại trừ vùng sào đạo, là nơi bị khuyết và cho phép thông thƣơng giữa thƣợng nhĩ và sào bào. Thành sau có thể đƣợc chia thành hai phần: một phần ba trên là sào đạo là giới hạn sau của thƣợng nhĩ và hai phần ba dƣới tƣơng ứng với thành sau của trung nhĩ sau.
Hai phần này đƣợc ngăn cách với nhau bởi trụ đe là một cấu trúc xƣơng đặc, chạy từ phía ngoài khung nhĩ đến phía trong của ống bán khuyên ngoài. Trên bề mặt có hố đe là nơi chứa cành ngắn của xƣơng đe (Hình 2.4: Hình ảnh thành sau tai trái cho thấy 1/3 trên là sào đạo, 2/3 dƣới là thành sau trung nhĩ sau. Chú thích: SPI: cành ngắn xƣơng đe, FI: hố đe. Nguồn: “Mansour S, Magnan J, Haidar H, Nicolas K, Louryan S.
Comprehensive and Clinical Anatomy of the Middle Ear.