Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai. Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai, thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột và giải pháp hoàn thiện. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tranh chấp đất đai 1.
Khái niệm tranh chấp đất đai Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, tranh chấp được hiểu là “bất đồng, trái ngược nhau1”. Theo cách định nghĩa trên thì tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trái ngược nhau về mặt lợi ích, quyền lợi, có thể là quan điểm, ý kiến về một vấn đề trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với “tranh chấp đất đai”, có nhiều cách hiểu khác nhau xoay quanh thuật ngữ này. Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, tranh chấp đất đai được hiểu là: “Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai2”.
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, tranh chấp đất đai là “Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai3”. Theo khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013, tranh chấp đất đai là:“tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tranh chấp đất đai nhưng nhìn chung, các cách định nghĩa trên có điểm chung là đề cập đến sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với các chủ thể khác trong quá trình quản lý và sử dụng đối với một hoặc nhiều thửa đất nhất định. Ngoài quá trình sử dụng, quản lý đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng có thể xảy ra những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên tham gia.
Ở nước ta, đất đai là loại tài nguyên đặc biệt, tuy nhiên để phát huy những tính năng của loại tài nguyên này trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thì đất đai được nhà nước giao 1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), “Từ điển tiếng Việt thông dụng”, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), “Từ điển giải thích Thuật ngữ Luật học”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.74 3 Nguyễn Duy Lãm (chủ biên), “Sổ tay thuật ngữ Pháp lý thông dụng”, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 1 cho các tổ chức, cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp dưới hình thức là quyền sử dụng đất. Do đó, trong quá trình sử dụng, quản lý, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì có thể xảy ra những mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên và với điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân như ở nước ta thì tranh chấp đất đai được hiểu chính là tranh chấp về quyền sử dụng đất4.
Như vậy, có thể hiểu tranh chấp đất đai là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đất đai với việc cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ngoài ra, khái niệm tranh chấp đất đai được hiểu không chỉ là những tranh chấp liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai mà bao gồm cả những tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính… 1. Đặc điểm của tranh chấp đất đai Do tính chất đặc thù và tầm quan trọng của đất đai đối với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đại đa số các bộ phận trong xã hội nên sự mâu thuẫn, xung đột liên quan đến đất đai thường xuyên xảy ra. Là một loại tranh chấp nên tranh chấp đất đai mang đặc điểm như các loại tranh chấp khác trong dân sự, lao động, kinh doanh – thương mại như: có sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên tham gia, chủ thể tham gia tranh chấp có thể là cá nhân, tổ chức, tranh chấp cũng có tác động nhất định đến các bên,… Mặc dù vậy, tranh chấp đất đai cũng mang những điểm đặc thù nhất định, như sau: Thứ nhất, đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là đất đai mà là quyền sử dụng đất.
Theo Điều 4 Luật Đất đai 2013 thì “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Như vậy, theo quy định này, đất đai là một tài sản đặc biệt, không giống như các loại tài sản khác mà bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào có thể xác lập quyền sở hữu. Theo đó, đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý trong phạm vi cả nước.
Tinh thần này cũng được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 với quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở 4 Lưu Quốc Thái, “Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2003”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2 (33)/2006, trang 3-6. 2 hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Ngoài ra, quy định về việc sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng được thể hiện trong lịch sử lập hiến nước ta thông qua các bản Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1980. Do đó, đất đai không thể là đối tượng của giao dịch, quan hệ dịch chuyển về quyền sở hữu5.
Chính vì lẽ đó, đối tượng của tranh chấp đất đai không thể là quyền sở hữu đất đai như các tranh chấp về quyền sở hữu của các loại tài sản khác. Cũng theo quy định của Điều 4, Luật Đất đai năm 2013, mặc dù Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất đai nhưng Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cơ quan, cá nhân có thể sử dụng nguồn lực đặc biệt này để phục vục các hoạt động trong đời sống xã hội dân sự, góp phần xây dựng đất nước bằng cách trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Việc trao quyền sử dụng đất cho chủ thể trực tiếp sử dụng đất có thể được thực hiện dưới các hình thức: Giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất…. Như vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu mà là quyền quản lý, quyền sử dụng và một số lợi ích vật chất khác phát sinh từ quyền quản lý, sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu toàn dân.
Đồng thời, quyền sử dụng đất – một quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng là đối tượng tham gia vào các giao dịch dân sự. Thứ hai, chủ thể của tranh chấp đất đai là chủ thể trực tiếp sử dụng đất, quản lý đất đai. Mặc dù Nhà nước là đại diện chủ sở hữu nhưng chủ thể của tranh chấp không phải là Nhà nước. Bởi lẽ, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà trao quyền sử dụng và quyền quản lý đất đai cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan.
Do đó, tham gia quan hệ tranh chấp tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý đất đai hoặc chủ thể sử dụng đất. Các bên tham gia tranh chấp không phải là chủ sở hữu đối với đất đai. Đây là điểm khác biệt giữa tranh chấp đất đai với các loại tranh chấp khác. Chẳng hạn, trong tranh chấp dân sự về quyền sở hữu tài sản thì đối tượng ở đây là tài sản và một trong các bên tranh chấp là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản tranh chấp đó.
Còn trong tranh chấp đất đai chỉ có quyền quản lý, sử dụng khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hoặc nhận chuyển nhượng, thuê lại, được thừa kế quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công 5 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2015), “Giáo trình Luật Đất đai”, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 28. 3 nhận quyền sử dụng đất chứ không có quyền sở hữu đất đai. Theo đó, chủ thể của các tranh chấp đất đai có thể là: Cá nhân; tổ chức; hộ gia đình; cộng đồng dân cư hay các đơn vị hành chính được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hợp pháp theo các hình thức mà pháp luật đã quy định. Thứ ba, tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mà còn ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước.
Tương tự như các loại tranh chấp khác, tranh chấp đất đai cũng có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến các bên chủ thể của tranh chấp – là những đối tượng trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Bên cạnh đó, do ý nghĩa về mặt kinh tế của đất đai nên ở một chừng mực nhất định, các tranh chấp đất đai cũng gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội. Điều này càng được thể hiện rõ hơn nếu chủ thể của tranh chấp đất đai có sự tham gia của một cộng đồng dân cư hoặc của cơ sở tôn giáo. Chính vì vậy, tranh chấp đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, dễ bị kẻ xấu lợi dụng để gây điểm nóng nên đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, kịp thời, dứt điểm để tránh các tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Hơn nữa, do tính chất phức tạp của nguồn gốc sử dụng đất cũng như sự xáo trộn của quan hệ đất đai nên qua các giai đoạn, thời kỳ, tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp có tính chất phức tạp, việc giải quyết cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Điều này đã đặt ra những khó khăn, thách thức nhất định đối với việc tổ chức bộ máy cũng như ban hành quy định pháp luật của Nhà nước ta để hạn chế sự phát sinh các tranh chấp đất đai xảy ra. Thứ tư, tranh chấp đất đai là loại tranh chấp phức tạp, chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.