chương 1, nghiên cứu cũng trình bày mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục nghiên cứu của toàn luận văn là cơ sở để chương 2, nghiên cứu sẽ tập trung vào việc làm rõ các khái niệm và tổng quan các nghiên cứu có liên quan, các lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết trao đổi xã hội (SET) Lý thuyết trao đổi xã hội của Cook, Cheshire, and Rice (2013) tập trung vào việc tương tác xã hội dựa trên nguyên tắc có qua có lại và phụ thuộc lẫn nhau. Lý thuyết trao đổi xã hội nhấn mạnh rằng các cá nhân tham gia vào các mối quan hệ để tối đa hoá phần thưởng và giảm thiểu chi phí, xem các mối quan hệ như một hình thức trao đổi lợi ích.
Bên cạnh đó SET còn khám phá các cam kết được hình thành giữa các cá nhân tham gia trao đổi lặp đi lặp lại theo thời gian, chẳng hạn như tình bạn, sự cộng tác hoặc các quan hệ đối tác. Lý thuyết này cũng kết hợp khái niệm công bằng phân phối, trong đó sự công bằng trong trao đổi là rất quan trọng để duy trì các mối quan hệ và điều chỉnh tương tác xã hội (Cook và cộng sự, 2013). SET đề xuất rằng nếu hai bên như tổ chức và nhân viên tuân thủ quy tắc trao đổi nhất định (tức là có đi có lại), họ sẽ sở hữu các mối quan hệ chuyển thành các cam kết tin cậy, trung thành theo thời gian (Cropanzano & Mitchell, 2005; Saks, 2006). Khi nhân viên thiết lập các mối quan hệ trao đổi xã hội với người sử dụng lao động, mối quan hệ này có xu hướng gắn liền với những gắn bó cá nhân chặt chẽ và những nghĩa vụ mở về mặt tình cảm (Cropanzano, Rupp, & Byrne, 2003).
Lý thuyết được vận dụng trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên kết các thực tiễn công việc hoặc nguồn lực công việc hiệu suất cao với WE và các kết quả khác nhau của người lao động bằng cách sử dụng SET làm khung lý thuyết. Ví dụ, (Glavas, 2016; Ilkhanizadeh & Karatepe, 2017; Saks, 2006) sử dụng lý thuyết SET để phát triển các mối liên hệ liên quan đến hậu quả của CSR và vai trò trung gian WE. Saks (2006) nhận thấy rằng các đặc điểm công việc như tự chủ và phản hồi từ người khác đã thúc đẩy người lao động, từ đó dẫn đến những kết quả tích cực như sự hài lòng trong công việc và hành vi công dân của tổ chức. Sự đầu tư của các nhà quản lý vào các hoạt động CSR tạo ra nghĩa vụ của người lao động phải tham gia tích cực vào công việc của họ và đóng góp vào hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Những người lao động như vậy cũng đáp lại bằng những kết quả tích cực về thái độ và hành vi như sự 7 hài lòng trong nghề nghiệp (WE). Trong khi đó, Glavas (2016) báo cáo rằng CSR đã nâng cao nhận thức của người lao động về hỗ trợ tổ chức. Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh các mối quan liên kết giữa doanh nghiệp và khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, nhà đầu tư, cộng đồng và những người khác có cổ phần trong tổ chức (Freeman, 2010). Theo quan điểm của Freeman, lý thuyết các bên liên quan cho rằng một tổ chức tạo nên giá trị cho tất cả các bên liên quan chứ không chỉ cổ đông.
Nhiều nghiên cứu về CSR trên thế giới đã sử dụng lý thuyết này để tập trung vào việc tìm hiểu cách mà các tổ chức tương tác với các nhóm khác nhau gắn liền với các hoạt động của tổ chức. Lý thuyết cũng đề cập việc khuyến khích các tổ chức không nên chỉ quan tâm đến lợi ích của cổ đông mà còn cần quan tâm đến các nhóm khác như khách hàng, nhân viên và cộng đồng rộng lớn hơn. Một tổ chức muốn phát triển mạnh, nó cần phải đáp ứng nhu cầu mong đợi của các bên liên quan ảnh hưởng bởi hoạt động của tổ chức chứ không nên chỉ tập trung vào lợi nhuận tài chính. Lý thuyết các bên liên quan gợi ý rằng các nhà quản lý suy nghĩ về hoạt động của họ dưới góc độ mối quan hệ giữa các bên liên quan (Freeman, 2010).
Theo lý thuyết “mô tả” các bên liên quan (Donaldson & Preston, 1995) sự thể hiện của các tác nhân về môi trường của họ được tổ chức xung quanh nhận thức của các nhóm liên quan. Theo đó, các nhóm bên liên quan có thể đưa ra phương pháp phỏng đoán hữu ích mà nhân viên sử dụng để đánh giá hành vi của công ty họ đối với các thành phần bên trong và bên ngoài khác nhau. Mô hình lý thuyết các bên liên quan Nguồn: (Donaldson & Preston, 1995) (Donaldson & Preston, 1995; Freeman, 2010) đã tuyên bố rằng người lao động các bên liên quan bị ảnh hưởng bởi hầu hết các hoạt động của tổ chức. Nhiều nghiên cứu trước đây về CSR đã vận dụng lý thuyết các bên liên quan (El Akremi và cộng sự, 2018; Parmar và cộng sự, 2010).
Bản chất đa chiều của lý thuyết các bên liên quan làm cho CSR trở thành một công cụ đặc biệt để khám phá các mối liên quan đến các cấu trúc khác, chẳng hạn như cam kết công việc, sự hài lòng công việc, hiệu suất công việc (Wong, Law, & Huang, 2008). Như vậy cấu trúc đa chiều CSR cho thấy sự hứa hẹn sẽ được dùng nhiều trong các nghiên cứu về các cơ chế mà CSR có liên quan đến thái độ và hành vi của người lao động và các bên liên quan khác (El Akremi và cộng sự, 2018). Lý thuyết bản sắc xã hội (SIT) Tajfel (1972) đã giới thiệu ý tưởng về bản sắc xã hội để lý thuyết hoá cách mọi người khái niệm hoá bản thân trong bối cảnh liên nhóm (Hogg, 2016). Ông định nghĩa bản sắc xã hội là “kiến thức của cá nhân rằng cá nhân thuộc về một số nhóm xã hội nhất định cùng với một số ý nghĩa về mặt cảm xúc và giá trị đối với cá nhân”.
Trong khi đó Turner (1975) cho rằng bản sắc xã hội có tính tự đánh giá và có giá trị từ các đặc tính đánh giá nhóm trong việc so sánh sự khác biệt tích cực về mặt đánh giá cho nhóm của chính mình. Theo (Ashforth & Mael, 1989) lại định nghĩa bản sắc xã hội là nhận thức về sự thống nhất với một nhóm, chịu ảnh hưởng của sự phân loại, tính khác biệt của nhóm và sự nổi bật của các nhóm bên ngoài. Tính khác biệt của các giá trị và thực hành của một nhóm làm tăng xu hướng các cá nhân đồng nhất với nhóm đó, điều này có thể dẫn đến cam kết và hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động của tổ chức. Lý thuyết này giúp nâng cao đáng kể sự hiểu biết của chúng ta về một loạt các hiện tượng liên quan đến ảnh hưởng xã hội và hành vi nhóm bao gồm các hoạt động liên quan đến công việc (Hogg, 2016).
Lý thuyết bản sắc xã hội được vận dụng nhiều trong các nghiên cứu về CSR ảnh hưởng đến WE bên cạnh lý thuyết trao đổi xã hội (SET) (Dang & Do, 2024; Hameed, Riaz, Arain, & Farooq, 2016; Jia, Yan, Liu, & Huang, 2019; Karanika-Murray, 9 Duncan, Pontes, & Griffiths, 2015; Peterson, 2004; Sarah Desiree Schaefer và cộng sự, 2024). Nghiên cứu của Jia và cộng sự (2019) dựa trên SIT để chứng minh tác động trung gian của OP trong mối quan hệ CSR và WE. Người lao động có xu hướng tự nhận tổ chức họ làm là nơi có danh tiếng tốt được ủng hộ của lý thuyết bản sắc xã hội (Peterson, 2004). Việc áp dụng SIT trong bối cảnh tổ chức đó có thể cung cấp thông tin cho nghiên cứu về xã hội, xung đột vai trò và quan hệ giữa các nhóm, làm nổi bật tầm quan trọng của việc hiểu cách nhận dạng ảnh hưởng đến hành vi tổ chức (Hameed và cộng sự, 2016; Jia và cộng sự, 2019).
Các khái niệm liên quan 2. Sự hài lòng công việc (JS) Sự hài lòng công việc là một trong những tiêu chí khó đo lường nhất mà các doanh nghiệp phải đối mặt khi đối diện với sự hài lòng trong công việc của nhân viên (JS) được đặc trưng bởi sự hài lòng. Định nghĩa sự hài lòng trong công việc có thể bắt nguồn từ nghiên cứu của (V. Fisher & Hanna, 1931), theo đó nhóm tác giả mô tả sự hài lòng trong công việc là một sản phẩm của tâm trạng và không có quy định xu hướng.
Sau đó vào năm 1976, Locke đã phát triển định nghĩa sự hài lòng trong công việc là sự ảnh hưởng sâu rộng, tức là sự hài lòng trong công việc là một loại trạng thái cảm xúc dễ chịu hoặc tích cực, phát triển trong quá trình đánh giá kinh nghiệm làm việc của một cá nhân (EA, 1976). Vào năm 1977, Kalleberg cho rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ bình thường của nhân viên đối với các công việc của mình (Kalleberg, 1977). Những nhân viên cân bằng sự hài lòng hoặc không hài lòng của mình với các phần khác nhau của công việc và cuối cùng đưa ra kết luận tổng thể về công việc. Nếu nhân viên có cảm giác tích cực và dễ chịu trong công việc thì thái độ của họ đối với công việc sẽ được định nghĩa là sự hài lòng trong công việc.
Ngược lại nhân viên sẽ có cảm giác tiêu cực và khó chịu trong công việc, thái độ của họ đối với công việc sẽ được coi là không hài lòng (Donaldson & Preston, 1995; Zaim, Kurt, & Tetik, 2012). Trong khi đó Kaliski (2007) mô tả sự hài lòng công việc là sự nhiệt tình và vui vẻ của một người đối với công việc của mình và đó là yếu tố cốt lõi giúp người lao động đạt được sự thăng tiến, đánh giá cao về tài chính cũng như đạt được nhiều mục 10 tiêu góp phần mang lại cảm giác thoả mãn. Sự hài lòng trong công việc là một chuỗi những suy nghĩ và ý kiến của mọi người về công việc hiện tại của họ. Chính sự đánh giá của một người về mức độ mà công việc đáp ứng các giá trị công việc của chính họ sẽ tạo ra trạng thái tinh thần tích cực hoặc cảm giác không vui tiêu cực tương ứng (Morgeson, Aguinis, Waldman, & Siegel, 2013).