CHƯƠNG 1. NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VÈ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI • • • 1. Khái quát về doanh nghiệp xã hội 1. Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội Lịch sử phát triển của DNXH đã chứng tỏ rằng, DNXH xuất hiện từ Anh và Mỹ.
Tại Châu Âu, mô hình DNXH đầu tiên ghi nhận được xuất hiện vào năm 1665 ở London, Anh, khi đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khởi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động. Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỳ từ thiện [9, tr. Cùng theo quan điểm đó, doanh nghiệp xã hội đóng góp vai trò nhân tố đối mới trong các lĩnh vực xã hội bằng cách thông qua một sứ mệnh để tạo ra và duy trì giá trị xã hội (mà không chì là giá trị cá nhân); Nhận thức và không ngừng theo đuổi các cơ hội mới để phục vụ cho sứ mệnh đó; Tham gia vào quá trình đổi mới liên tục, thích nghi và rút ra bài học; Hoạt động mạnh mẽ mà không bị giới hạn bởi nguồn lực sẵn có; Và thể hiện trách nhiệm giải trình cao hơn đối với thành viên và đối với kết quả đầu ra.
Như vậy, xí nghiệp sản xuất mà Thomas Firmin thành lập với những mục đích tạo việc làm cho công nhân và lợi nhuận thu được sẽ chuyến cho các quỹ từ thiện chính là manh nha của loại hình DNXH, theo đuối những mục tiêu phục vụ cộng đồng và xã hội. Với những đặc điểm riêng, mô hình DNXH đã lan rộng ra nhiều nước tư bản châu Âu, châu Mỹ, và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Mặc dù có thể tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau, nhung sự hình thành và phát triền của DNXH ở các quốc gia này hồ trợ một cách đáng kể vào các chính sách an sinh xã hội cúa nhà 6 nước trong thời kỳ phát triên của chủ nghĩa tư bàn, bởi mục đích chung của các DNXH là JLphục • vụ• các mục • tiêu xã hội. • Sang thế kỷ 20, hoạt động của các DNXH có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc đại suy thoái năm 1929-1933, cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; Và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau thế chiến thứ II [9, tr.
1], Đen giữa thập niên 1970, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại sau hai cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới và chi tiêu xã hội không ngừng tăng lên do hậu quả xã hội của khủng hoàng kinh tế, hệ thống an sinh xã hội thực sự đứng trước nguy cơ bị phá vỡ vào thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXL Trong bối cảnh đó, tại Vương quốc Anh, vào năm 1979, Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền, bà chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội [9, tr. 2], Nhà nước phương Tây trong giai đoạn này đã rút dần ảnh hưởng trong lĩnh vực công, xã hội hóa nhiều hoạt động phúc lợi, từ thiện. Từ đó dẫn đến sự phát triển của các DNXH trong giai đoạn này. Ở châu Mỹ, DNXH được du nhập từ Anh quốc và phát triển tương đổi mạnh mẽ.
Tại Hoa Kỳ có hơn 195.000 tổ chức nộp đơn là tồ chức từ thiện công cộng (là tổ chức phi lợi nhuận liên quan đến nghệ thuật, giáo dục, y tế chăm sóc, dịch vụ con người, và phục vụ cộng đồng. Hơn 100 triệu người ở Mỳ là thành viên của DNXH. Công đoàn tín dụng là hợp tác xã phổ biến nhất $ 629 tỷ tài sản (đại diện cho một sự gia tăng gấp 100 lần kể từ năm 1960). Theo thống kê, một trong những DNXH nổi tiếng và xuất hiện sớm nhất là Goodwill Industries, đã xuất hiện từ năm 1902 và bây giờ đã trở thành một DNXH hoạt động hiệu quả hàng đầu [11].
Các mô hình kinh doanh giống như thế đã tồn tại trên quy mô nhò trong phạm vi cả nước suốt những năm đầu và giữa thế kỷ XX, và trở nên đặc biệt phổ biến vào cuối thập kỷ 70-80, khi sự phát triển kinh tế có dấu hiệu chậm lại và nhà nước Hoa Kỳ đã cắt giảm các chi phí cho hoạt động trợ cấp. Các tổ chức phi chính phủ 7 vốn chỉ dựa vào nguồn kinh phí từ thiện từ chính phủ và các chủ thể khác, lúc đó đã phải tìm phưong kế tự trang trải các khoản tiền. Bên cạnh đó, những cá nhân, tổ chức có đầu óc chiến lược đã chứng minh rằng việc tự túc trong các vấn đề tài chính có thể thúc đẩy công việc trôi chảy hơn nhiều là việc chỉ chờ đợi duy nhất nguồn tiền trợ cấp. Sự cạnh tranh giữa các tổ chức phục vụ mục tiêu xã hội trở nên căng thắng hơn, đòi hỏi họ buộc phải tiến hành các cải cách [12].
Làn sóng DNXH không chỉ dừng lại ở biên giới Hoa Kỳ và các nước Châu Âu, mà còn trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu. Kể từ thế kỷ XVII đến nay, chặng đường mà DNXH trải qua đã tương đối dài. Tuy nhiên, phải đến tận đầu thế kỷ XXI, nhận thức cộng đồng về DNXH mới có cơ hội khai mở và truyền bá rộng rãi. Giáo sư Klaus Schwab - Nhà sáng lập, chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới - chia sẻ rằng khi ông thành lập Quỳ Schwab hỗ trợ các DNXH vào năm 1998, khái niệm DNXH hầu như chưa từng được nghe nói đến ở châu Âu và cũng ít được biết đến ở nhũng nơi khác trên thế giới, dù cho lúc đó đã có những hoạt động ban đầu của Ashoka, một tổ chức tiên phong của loại hình này.
Khi ông đăng ký thành lập Quỳ Schwab tại Thụy Sĩ, ngay việc dịch cụm từ “DNXH” khi đó còn chưa xuất hiện trong từ vựng tiếng Pháp và Đức, đã là một thách thức hoặc như câu chuyện cúa Muhammad Yunus: vào đầu thập niên 1970, ông bắt đầu làm việc không mệt mỏi để chứng minh rằng phụ nữ nghèo là những người đáng tin cậy và hoàn toàn có thể cho họ vay tiền, tuy vậy thế giới phải mất hơn 30 năm để có thể công nhận đầy đủ giá trị của tín dụng vi mô [25], Dễ dàng nhận thấy yếu tố then chốt khiến phong trào DNXH được thúc đẩy lan rộng một cách nhanh chóng trên thế giới, đó là việc dịch chuyến các chức nãng xã hội từ phía chủ thế công sang các chủ thể tư và các chủ thể thứ ba (còn được biết đến là các chủ thể trong hệ sinh thái xã hội dân sự). Đây là thời điểm chín muồi dành cho các cách tiếp cận mang tính kinh doanh đối với các vấn đề xã hội. Thực tế cho thấy nỗ lực của chính phũ và các tổ chức từ thiện đã không đạt được 8 những gì mà chúng ta kỳ vọng; các trung tâm xã hội cũng không chứng tở được hiệu quả. Ngược lại, các doanh nhân xã hội ngày càng chứng tỏ vai trò to lớn trong việc phát triển các mô hình mới cho một thế kỷ mới” [10], Ờ Việt Nam, DNXH ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần giải quyết hiệu quả, bền vững các vấn đề xã hội.
Trong những năm qua, các DNXH ở Việt Nam đã có những bước phát triến vượt bậc. Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi CSIP, Hội đồng Anh và Spark, tồ chức có hoạt động tương đối toàn diện như một DNXH và có lịch sử lâu đời nhất là hợp tác xã Nhân Đạo thuộc hội Người khuyết tật Hà Nội, được thành lập vào năm 1973. Trong số các hợp tác xã ra đời trong giai đoạn này, chúng ta thấy bên cạnh các hợp tác xã mang tính sản xuất là chủ yếu như hợp tác xã nông nghiệp 1 9 hợp tác xã tiêu thủ công nghiệp. thì một sô không nhỏ được thành lập đê tạo việc làm cho những đối tượng yếu thế của xã hội, chù yếu là người khuyết tật.
Trong thời kỳ này, Nhà nước Việt Nam cũng đã có nhiều biện pháp để khuyến khích sự phát triển của hợp tác xã ngay từ những năm đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Cho đến năm 1987, các hợp tác xã trên cả nước cũng lên tới con số gần 74.000, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, góp phần đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của cộng đồng [9, tr. Tuy nhiên, đây mới chi là một mô hình mang tính chất tương tự như các DNXH. Năm 1986 là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thừa nhận các thành phần kinh tế mới là kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ.
Nhờ đó, vai trò chủ động của cá nhân và cộng đồng trong việc cung cấp và trao 9 9 đôi các dịch vụ đáp ứng nhu câu cùa người dân đã được công nhận và phát triên. Thêm vào đó, chính sách mớ cửa cũng dẫn đến sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và các nguồn trợ giúp phát triển quốc tế (ODA). Các chương trình này không những đem lại nguồn vốn to lớn phục vụ công cuộc phát triển, mà còn mở rộng việc giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm và tri thức phát triển xã hội, nhờ đó đem lại những mô hình và phương pháp mới mẻ mà Việt Nam 9 có thể kế thừa. Trong giai đoạn này đã đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện tích cực các văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật Công ty (sau này gọi là luật Doanh nghiệp), Luật các tố chức tín dụng, Luật hợp tác xã,.
Các luật này đã đặt tiền đề cho sự phát triển của các tổ chức và doanh nghiệp phát triển cộng đồng thực sự nở rộ. Tăng cường sức mạnh cùa các tố chức chính trị xã hội: Chính phủ đã ban hành Nghị định 177/1999/NĐ-CP và Nghị định 148/2007/NĐ-CP, nhờ đó cơ sở cho việc thành lập quỳ xã hội, quỳ từ thiện được xác lập.