Khóa luận tốt nghiệp: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo BLHS 2015

Nghiên cứu quy định pháp luật về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Bộ luật Hình sự 2015, phân tích cấu thành tội phạm và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo BLHS 2015

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm làm rõ nền tảng lý luận và cơ sở pháp lý của nhóm tội phạm kinh tế. Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên, Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ giới hạn phạm vi bảo hộ hình sự đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Nghiên cứu xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản, bao gồm khách thể xâm phạm là trật tự quản lý kinh tế và quyền tài sản hợp pháp của chủ sở hữu. Mặt khách quan thể hiện qua các hành vi giả mạo, sao chép hoặc phân phối trái phép với quy mô thương mại. Chủ thể của tội phạm bao gồm cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại. Mặt chủ quan đòi hỏi yếu tố lỗi cố ý trực tiếp với mục đích tìm kiếm lợi ích vật chất. Đề tài cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử lập pháp và các cam kết quốc tế của Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp phản ánh hành vi vi phạm quy tắc quản lý trật tự thị trường và quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước công nhận. Đối tượng bảo hộ trực tiếp theo luật hình sự Việt Nam hiện hành tập trung vào nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý đã được cấp văn bằng bảo hộ hợp pháp. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả, sáng chế hoặc bí mật kinh doanh được điều chỉnh ở các điều khoản độc lập khác hoặc bằng chế tài dân sự, hành chính. Việc xác định đúng đối tượng giúp cơ quan tiến hành tố tụng phân định chính xác ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự nguy hiểm.

1.2. Cam kết quốc tế và kinh nghiệm pháp luật nước ngoài

Việt Nam gia nhập nhiều điều ước quốc tế đa phương như Hiệp định TRIPS của Tổ chức Thương mại Thế giới, CPTPP và Hiệp định EVFTA. Các văn kiện này đặt ra nghĩa vụ nghiêm ngặt về việc áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi làm giả nhãn hiệu quy mô thương mại. Pháp luật các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Liên bang Nga và Trung Quốc đều quy định hình phạt nghiêm khắc đối với tội phạm sở hữu trí tuệ. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra sự cần thiết của việc đa dạng hóa hình phạt, bao gồm phạt tiền nặng, tịch thu phương tiện phạm tội và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức kinh doanh.

II. Thực trạng tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong BLHS 2015

Thực tiễn áp dụng Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 bộc lộ nhiều vướng mắc trong việc xử lý tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả nhãn hiệu và xâm phạm chỉ dẫn địa lý diễn ra phức tạp trên không gian mạng và thương mại điện tử. Các đối tượng phạm tội sử dụng thủ đoạn tinh vi, phân tán kho hàng và giao dịch qua các tài khoản ảo để che giấu hành vi vi phạm. Việc xác định giá trị hàng hóa vi phạm, số tiền thu lợi bất chính hoặc mức độ thiệt hại tài sản còn gặp khó khăn do thiếu hướng dẫn liên tịch thống nhất. Bên cạnh đó, số lượng các vụ án hình sự được khởi tố còn rất hạn chế so với thực tế vi phạm hành chính. Năng lực giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ còn chậm, chi phí cao và chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu điều tra. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại còn nhiều lúng túng trong giai đoạn tố tụng.

2.1. Dấu hiệu định tội và vướng mắc về định lượng tài sản

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các mức định lượng cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 200 triệu đồng. Tuy nhiên, việc tính toán doanh thu thực tế và chứng minh chuỗi cung ứng hàng giả gặp trở ngại lớn khi các đối tượng không lưu trữ hóa đơn, chứng từ. Định nghĩa về quy mô thương mại còn trừu tượng, dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa các cơ quan điều tra địa phương. Sự thiếu đồng bộ trong việc định giá tài sản vi phạm khiến nhiều vụ việc có dấu hiệu hình sự bị chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính.

2.2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Quy định truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại tại Điều 226 là bước tiến lớn của pháp luật hình sự Việt Nam. Dù vậy, thực tiễn xét xử cho thấy số lượng doanh nghiệp bị kết án vẫn chiếm tỷ lệ rất thấp. Cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc chứng minh hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh, vì lợi ích hoặc dưới sự chỉ đạo của pháp nhân. Các hình phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc cấm huy động vốn đòi hỏi cơ chế giám sát thi hành án chặt chẽ từ nhiều cơ quan quản lý nhà nước.

III. Giải pháp hoàn thiện tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 2015

Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về lập pháp và thực thi. Trước hết, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết các tình tiết định khung tại Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cần làm rõ phương pháp xác định giá trị hàng hóa giả mạo theo giá thị trường của sản phẩm chính hãng hoặc giá bán thực tế. Về mặt tổ chức thực thi, các cơ quan chuyên trách như Quản lý thị trường, Hải quan và Cảnh sát kinh tế cần thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu số. Đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại và chuẩn hóa quy trình giám định tư pháp sở hữu công nghiệp giúp rút ngắn thời gian điều tra. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc ngăn chặn các đường dây sản xuất hàng giả xuyên biên giới và hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu toàn cầu.

3.1. Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn tố tụng

Hệ thống văn bản pháp luật cần làm rõ ranh giới giữa quy mô thương mại và hành vi tiêu dùng thông thường. Cần bổ sung quy định xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp có tổ chức nguy hiểm. Các cơ quan tư pháp trung ương cần xây dựng cẩm nang nghiệp vụ điều tra án sở hữu trí tuệ nhằm chuẩn hóa quy trình thu thập chứng cứ điện tử. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra bảo đảm áp dụng thống nhất các biện pháp ngăn chặn và phong tỏa tài sản bất hợp pháp.

3.2. Nâng cao năng lực giám định và phối hợp liên ngành

Nâng cao chất lượng đội ngũ giám định viên sở hữu trí tuệ là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm tính chuẩn xác của chứng cứ pháp lý. Nhà nước cần thành lập các trung tâm giám định chuyên sâu với đầy đủ cơ sở dữ liệu đối chiếu nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Lực lượng thực thi pháp luật cần chủ động thiết lập kênh liên lạc thường xuyên với các hiệp hội ngành nghề và chủ sở hữu quyền thương hiệu. Việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phát hiện sớm các hành vi giả mạo trên nền tảng số.

IV. Giá trị khóa luận tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp BLHS 2015

Khóa luận tốt nghiệp về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mang lại giá trị học thuật sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn to lớn. Đề tài hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về bảo hộ tài sản trí tuệ và cấu thành tội phạm kinh tế đặc thù. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên luật, giảng viên, luật sư và các nhà hoạch định chính sách tư pháp. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc hoàn thiện khung pháp lý hình sự bảo vệ quyền tác giả và sở hữu công nghiệp đóng vai trò sống còn. Một môi trường kinh doanh minh bạch, tôn trọng bản quyền sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài và khuyến khích doanh nghiệp nội địa sáng tạo. Công trình khẳng định tính đúng đắn của việc đổi mới tư duy lập pháp hình sự nhằm bảo vệ bền vững nền kinh tế tri thức quốc gia.

4.1. Ý nghĩa học thuật và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp và thống kê tội phạm học. Khóa luận làm sáng tỏ các mối quan hệ hữu cơ giữa luật hình sự, luật sở hữu trí tuệ và các cam kết thương mại quốc tế. Nghiên cứu đóng góp tài liệu chuyên khảo giá trị cho chương trình đào tạo cử nhân luật chất lượng cao tại các cơ sở giáo dục đại học. Các phân tích logic giúp người học hiểu rõ bản chất bảo hộ quyền tài sản vô hình.

4.2. Ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp và cơ quan tư pháp

Kết quả nghiên cứu cung cấp giải pháp thiết thực cho doanh nghiệp trong việc tự bảo vệ tài sản vô hình và phòng ngừa rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần chủ động đăng ký xác lập quyền và theo dõi các dấu hiệu vi phạm trên thị trường. Đối với các cơ quan thực thi pháp luật, đề tài gợi mở hướng xử lý đối với tội phạm trên môi trường mạng và hoàn thiện quy trình khởi tố pháp nhân thương mại. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm góp phần xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn và lành mạnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong bộ luật hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự hình thành và phát triển pháp luật về SHCN tại Việt Nam. Nhưng trong chỉ thị không giải thích khái niệm SHCN là gì mà chỉ chú thích SHCN bao gồm sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa. SHCN là một phần của quyền SHTT. Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) giải thích quyền SHTT là "sáng tạo trí óc sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật, biểu tượng, tên, ảnh và các thiết kế dùng trong thương mại.

Quyền SHTT được phân làm hai loại là SHCN và bản quyền"1. Sáng tạo trí óc ở đây được hiểu chính là tài sản của trí tuệ. Theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bổ sung năm 2022) thì tài sản trí tuệ gồm tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, sáng chế, kiểu dáng công 1 WIPO, Introduction to the Intellectual Property Theory and Practice, KluwerLaw International, London - The Hague, Boston, 2002, pg3. 7 nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh và giống cây trồng… Từ những quy định của pháp luật chuyên ngành trên có thể hiểu định nghĩa khái niệm "SHCN" như sau: SHCN là sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với thành quả được sáng tạo, nghiên cứu, triển khai có thể áp dụng công nghiệp.

Các thành quả này còn gọi là đối tượng SHCN bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý được Nhà nước bảo hộ. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp Bộ luật dân sự năm 1995 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm "quyền SHCN", Điều 780 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu cả nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa quyền sử dụng đối với tên gọi, xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định". Tiếp đó là các Điều 782, 783, 784, 785, 786 của Bộ luật này đã đưa ra định nghĩa pháp lý của các khái niệm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa. Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2022 cũng đã đưa ra định nghĩa pháp lý về quyền SHCN theo hướng mở rộng hơn về đối tượng của quyền này "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật trong doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh".

Theo đó, quyền SHCN là quyền sở hữu được Nhà nước bảo hộ cho các cá nhân, tổ chức đối với các đối tượng SHCN được xác nhận hoặc ghi nhận thông qua văn bằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức có liên quan (chủ văn bằng bảo hộ). Quyền SHCN của chủ văn bằng bảo hộ theo quy định tại Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bao gồm các quyền năng cụ thể: 8 - Sử dụng cho phép người khác sử dụng đối tượng SHCN theo đúng quy định của pháp luật về SHCN (Điều 124 và Chương X); - Ngăn cấm người khác sử dụng trái pháp luật đối tượng SHCN (Điều 125 Luật này); - Định đoạt đối tượng SHCN (Chương X Luật này). Quyền SHCN là một trong những quyền dân sự quan trọng của công dân. Khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, vấn đề bảo hộ các đối tượng của quyền SHCN càng được đặt ra một cách cấp thiết.

Điều đó giúp tạo ra một môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh cho những hoạt động sáng tạo khoa học, công nghệ góp phần đưa nền kinh tế phát triển. Nhận thức được vai trò quan trọng của quyền SHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng hệ thống hóa pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, bao gồm các quy định pháp luật nhằm phòng, chống tội xâm phạm quyền SHCN. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, chủ sở hữu các đối tượng SHCN có các quyền cơ bản là sử dụng, định đoạt và ngăn chặn người khác có hành vi xâm phạm đối với SHCN. Như vậy, người nào sử dụng các đối tượng SHCN của người khác trong thời gian bảo hộ mà không được chủ sở hữu các đối tượng SHCN cho phép thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN Tùy vào tính chất của hành vi xâm phạm có thể chia ra từng mức độ khác nhau xâm phạm SHCN ở mức độ dân sự, hành chính hay hình sự.

Khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Hiện nay, các công trình nghiên cứu về Tội xâm phạm quyền SHCN không nhiều, do đó định nghĩa về khái niệm “tội xâm phạm quyền SHCN" cũng chưa được nhiều tác giả để cập. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Nga, tội xâm phạm quyền với SHCN được định nghĩa: "là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đì tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm phạm quyền sở hữu của các cá nhân, pháp nhân đối với nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý được Nhà nước bảo hộ”2. Định nghĩa trên về cơ bản đã đưa ra những 2 Nguyễn Đức Nga, (2009), Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội, tr21. 9 dấu hiệu nhận biết về tội xâm phạm quyền SHCN, phản ánh được bản chất của tội phạm là xâm phạm quyền SHCN của chủ SHCN.

Tương tự như vậy, bài viết "Pháp luật hình sự Việt Nam với việc việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp" của Tiến sĩ Đào Lệ Thu trong Hội thảo "Sở hữu trí tuệ - những nội dung cơ bản cần giảng dạy trong trường đại học Luật Hà Nội" cũng đã đưa ra định nghĩa: "Các tội xâm phạm trong lĩnh vực SHCN là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm nghiêm trọng trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực SHCN, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu”3. Định nghĩa này đã đưa ra một cách đầy đủ về những dấu hiệu nhận biết tội phạm quyền SHCN. Hai tác giả trên đưa ra định nghĩa về khái niệm "tội xâm phạm quyền SHCN dựa trên những quy định của BLHS năm 1999. Hiện nay, BLHS năm 2015 có nhiều thay đổi, đặc biệt tội xâm phạm quyền SHCN cũng có nhiều quy định mới.

Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2022 đối tượng của quyền SHCN gồm: "sáng chế, kiểu dáng công nghiệp thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh". Tuy nhiên BLHS năm 2015 chỉ quy định "nhãn hiệu", "chỉ dẫn địa lý" là hai đối tượng được nhà nước bảo vệ bằng biện pháp hình sự. Cụ thể, chỉ xử lý về hình sự hành vi cố ý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại, trường hợp vi phạm chưa thuộc phạm vi "quy mô thương mại" thì áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính để xử lý. Như vậy, các hành vi phạm tội xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (ngoài nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý) đã được phi hình sự hoá để xử lý bằng các biện pháp khác.

Sở dĩ "nhãn hiệu" và "chỉ dẫn địa lý" là đối tượng của quyền SHCN được quy định trong luật hình sự bởi dựa trên tình hình kinh tế ở Việt Nam, việc đăng ký nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý ngày càng phát triển mạnh, tình hình vi phạm 3 Đào Lệ Thu, (2003), Pháp luật hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền sở công nghiệp, Hội thảo khoa học Sở hữu trí tuệ - những nội dung cơ bản cần giảng dạy trong trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr6. 10 về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý xảy ra nhiều gây ảnh hưởng nghiêm trọng, thiệt hại tới các chủ sở hữu, các doanh nghiệp và cả người tiêu dùng. Từ nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật hình sự Việt Nam, căn cứ theo khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về khái niệm tội phạm "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự ảo người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phạt bị xử lý hình sự". Theo Điều 226 BLHS năm 2015 quy định về tội xâm phạm quyền SHCN như sau: "71.

Người nào cố ý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ Sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000 đồng đến đười 500.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm". Ta thấy chủ thể của tội xâm phạm quyền SHCN là người có năng lực TNHS thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý với đối tượng của quyền SHCN là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại để lại hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng cho chú sở hữu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ