Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Huy (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2025) tiếp cận vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) dưới góc độ khoa học luật hình sự. Quyền SHCN là một trong những quyền dân sự quan trọng, bảo vệ thành quả sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh. Khi nền kinh tế phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình trạng xâm phạm các đối tượng SHCN diễn ra phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho chủ sở hữu, trật tự quản lý kinh tế và quyền lợi người tiêu dùng.

Trước yêu cầu thể chế hóa đường lối đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và đáp ứng các cam kết quốc tế, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng tại Điều 226, đặc biệt là lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại đối với tội xâm phạm quyền SHCN. Số liệu thực tiễn được trích dẫn trong văn bản cho thấy mức độ cấp thiết của vấn đề: tính đến tháng 9/2017, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai 48 cuộc thanh tra về SHCN trên toàn quốc, xử phạt vi phạm hành chính hơn 1,4 tỷ đồng, buộc tiêu hủy và loại bỏ yếu tố vi phạm đối với hơn 205.000 sản phẩm xâm phạm quyền SHCN và giả mạo nhãn hiệu (như dược phẩm, thời trang, bánh kẹo, đồ tiêu dùng).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận chung về tội xâm phạm quyền SHCN, đánh giá thực trạng và mức độ hoàn thiện của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội danh này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung và các quy định pháp luật hình sự về tội xâm phạm quyền SHCN trong luật hình sự quốc gia và các văn bản pháp lý quốc tế.
    2. Phân tích quy định của luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền SHCN.
    3. Đánh giá thực tiễn quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội xâm phạm quyền SHCN, chỉ rõ những mặt hạn chế, khó khăn còn tồn tại để đưa ra đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tội xâm phạm quyền SHCN trong BLHS năm 2015.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ chuyên ngành: Khoa học luật hình sự.
    • Thời gian: Tập trung phân tích các quy định lý luận và thực định theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đến nay; phạm vi nghiên cứu thực tiễn các vụ án được tiến hành từ năm 2008 đến nay.
    • Không gian: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, các điều ước quốc tế có liên quan và pháp luật hình sự của 03 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng của luật sở hữu trí tuệ và luật hình sự:

  • Khung khái niệm và văn bản luật trong nước: Khái niệm SHCN bắt đầu hình thành tại Việt Nam từ Chỉ thị số 20-TTg ngày 23/01/1981; được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 780 đến Điều 786), Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) với 8 nhóm đối tượng (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh). Cơ sở định tội và định khung hình phạt dựa trên Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (tuổi chịu TNHS), Điều 129 Luật SHTT (hành vi xâm phạm quyền), Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả) và Điều 226 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điều ước và cam kết quốc tế: Công ước Paris về bảo hộ SHCN năm 1883; Hiệp định TRIPS năm 1994 (Điều 61 yêu cầu áp dụng thủ tục và chế tài hình sự đối với hành vi cố ý giả mạo nhãn hiệu ở quy mô thương mại); Hiệp định khung ASEAN về hợp tác SHTT năm 1995; Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA năm 2000, Điều 14); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA năm 2015); Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP năm 2018, tiền thân là TPP năm 2016 với tiêu chuẩn TRIPS-cộng).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền SHCN.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng trong toàn bộ các chương để làm rõ các khái niệm pháp lý, cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp so sánh: So sánh pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế (TRIPS, EVFTA, CPTPP); so sánh pháp luật Việt Nam với luật hình sự Trung Quốc, Liên bang Nga, Hoa Kỳ; so sánh cấu thành Tội xâm phạm quyền SHCN (Điều 226) với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192).
  • Phương pháp diễn giải quy nạp và thống kê: Thu thập, phân tích các số liệu thực tiễn và trích dẫn văn bản quy phạm pháp luật, bản án, tài liệu điều tra.
  • Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế, tài liệu giải thích pháp luật của Tòa án Tối cao Trung Quốc, số liệu thống kê của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, các bản án/cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân và tài liệu giáo trình, hội thảo chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Các vấn đề chung về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội xâm phạm quyền SHCN, rà soát các điều ước quốc tế và nghiên cứu luật hình sự của một số quốc gia:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả định nghĩa tội xâm phạm quyền SHCN là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự cấm, do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý, xâm phạm nghiêm trọng nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thỏa mãn các dấu hiệu định lượng do luật định. Đặc điểm của tội phạm gồm: đối tượng tác động trực tiếp là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý; hành vi nguy hiểm cho trật tự quản lý kinh tế; lỗi bắt buộc là lỗi cố ý trực tiếp với động cơ tư lợi; chủ thể gồm cá nhân từ đủ 16 tuổi và pháp nhân thương mại.
  • Quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế:
    • Công ước Paris (1883): Điều 25 trao quyền cho các nước thành viên áp dụng biện pháp cần thiết theo Hiến pháp quốc gia.
    • Hiệp định TRIPS (1994): Điều 61 bắt buộc hình sự hóa hành vi giả mạo nhãn hiệu ở quy mô thương mại với chế tài phạt tù, phạt tiền, tịch thu và tiêu hủy tang vật.
    • Hiệp định BTA (2000) và EVFTA (2015): EVFTA nâng chuẩn bảo hộ qua việc cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời linh hoạt, xác định thiệt hại theo mức độ lỗi, bảo hộ 160 chỉ dẫn địa lý của EU và 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam.
    • Hiệp định CPTPP (2018): Yêu cầu hình sự hóa các hành vi mở rộng (tiêu chuẩn TRIPS-cộng) như xuất khẩu hàng giả mạo quy mô thương mại, nhập khẩu bao bì/nhãn mác giả, hành vi liên quan đến dịch vụ và hành vi giúp sức, xúi giục.
  • Kinh nghiệm luật hình sự nước ngoài:
Quốc gia Văn bản / Điều luật Đối tượng điều chỉnh Mức hình phạt chính cao nhất Điểm đặc thù
Trung Quốc BLHS 1979 (sửa đổi 2017), Điều 213, 214, 215 Nhãn hiệu hàng hóa Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm tù kèm phạt tiền Ban hành các văn bản "Giải thích pháp luật" liên ngành của TANDTC và Viện Công tố tối cao (1998, 2004) để lượng hóa chế tài cụ thể.
Liên bang Nga BLHS 1996 (sửa đổi 2019), Điều 147, 180 Sáng chế, phát minh, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, xuất xứ Phạt tù đến 02 năm Quy định chi tiết các hình phạt lao động: lao động bắt buộc (đến 480 giờ), cải tạo lao động (đến 2 năm), lao động cưỡng ép (đến 2 năm).
Hoa Kỳ Đạo luật Lanham 1946, FTDA 1995, 18 U.S.C. § 1831, § 1832 Nhãn hiệu hàng hóa, bí mật kinh doanh Phạt tù lên đến 10 - 20 năm; phạt tiền lên đến hàng trăm nghìn hoặc hàng triệu USD Tách biệt tội làm tình báo kinh tế (đến 15 năm tù) và đánh cắp bí mật kinh doanh (đến 10 năm tù); tăng nặng nếu gây hại sức khỏe/tính mạng.

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Chương 2 tập trung mổ xẻ bốn yếu tố cấu thành tội phạm và khung hình phạt theo Điều 226 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  • Khách thể: Trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHCN và quyền tài sản hợp pháp của chủ sở hữu đối tượng SHCN. Tác giả lưu ý: trong 8 đối tượng SHCN tại Điều 4 Luật SHTT năm 2005, BLHS năm 2015 đã thu hẹp phạm vi điều chỉnh hình sự, chỉ bảo vệ 02 đối tượng là nhãn hiệu (nhãn hiệu tập thể, chứng nhận, liên kết, nổi tiếng) và chỉ dẫn địa lý. Các đối tượng khác (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh...) đã bị phi hình sự hóa để xử lý bằng biện pháp dân sự hoặc hành chính. Tác giả đánh giá đây là điểm bất cập cần khắc phục.
  • Mặt khách quan: Hành vi vi phạm quyền theo khoản 1, khoản 3 Điều 129 Luật SHTT năm 2005 (sử dụng dấu hiệu trùng/tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ). Khóa luận minh họa bằng các vụ việc thực tiễn:
    • Vụ án sang chiết gas trái phép vào bình mang nhãn hiệu Shell gas, Petro Vietnam gas, Total gas (Lê Đức Thọ và đồng phạm, 12/2007 - 03/2008).
    • Vụ xâm phạm nhãn hiệu sữa "Trường Sinh" giữa Công ty Foremost và Công ty TNHH công nghiệp Trường Sinh.
    • Vụ nhãn hiệu mì "Hảo Hạng" (GCN 119302 năm 2009) xâm phạm kiểu dáng, cách phát âm, màu sắc bao bì nhãn hiệu "Hảo Hảo" (GCN 62360 năm 2005).
    • Vụ Công ty TNHH Nam Bình đặt in 72.960 vỏ lon có hình hai con vật húc nhau nhái nhãn hiệu Red Bull của Thái Lan (Cáo trạng số 306/KSĐT-XXSTHS của VKSND TP.HCM).
    • Vi phạm chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Mê Thuột (được bảo hộ theo Quyết định số 806/QĐ-SHTT ngày 14/10/2005) và bia Heininger in lá cờ Đức sản xuất tại Bình Dương.
    • Dấu hiệu "quy mô thương mại" và định lượng: Hành vi phải gắn liền với mục đích kinh doanh, lưu thông hàng hóa và đáp ứng các mức định lượng cụ thể (thu lợi bất chính, gây thiệt hại hoặc trị giá hàng hóa vi phạm).
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ phạm tội bắt buộc là tư lợi.
  • Chủ thể: Cá nhân từ đủ 16 tuổi có năng lực TNHS (Điều 12 BLHS) và pháp nhân thương mại đáp ứng các điều kiện tại Điều 75 BLHS.
  • Hệ thống khung hình phạt theo Điều 226 BLHS:
Chủ thể Khung cơ bản Khung tăng nặng Hình phạt bổ sung
Cá nhân Phạt tiền từ 50.000.000đ đến 500.000.000đ hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Điều kiện: Quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính 100 trđ đến < 300 trđ; gây thiệt hại 200 trđ đến < 500 trđ; hàng vi phạm trị giá 200 trđ đến < 500 trđ.
Phạt tiền từ 500.000.000đ đến 1.000.000.000đ hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Tình tiết: Có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; thu lợi bất chính từ 300 trđ trở lên; gây thiệt hại từ 500 trđ trở lên; hàng vi phạm từ 500 trđ trở lên.
Phạt tiền từ 20.000.000đ đến 200.000.000đ; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Pháp nhân thương mại Phạt tiền từ 500.000.000đ đến 2.000.000.000đ (thỏa mãn dấu hiệu khoản 1 và đã bị xử phạt hành chính hoặc chưa xóa án tích về tội này). Phạt tiền từ 2.000.000.000đ đến 5.000.000.000đ hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm (thuộc trường hợp khoản 2). Phạt tiền từ 100.000.000đ đến 500.000.000đ; cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Chương 3: Đánh giá quy định, thực tiễn áp dụng pháp luật về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và một số kiến nghị

Chương 3 tổng kết các hạn chế trong thực tiễn áp dụng Điều 226 và đề xuất định hướng hoàn thiện:

  • Hạn chế và vướng mắc thực tiễn:
    • Khó khăn trong việc phân định ranh giới pháp lý giữa hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (Điều 226) và hàng giả về chất lượng/nội dung theo Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192).
    • Phạm vi đối tượng bảo hộ hình sự bị bó hẹp trong nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, bỏ lọt các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và bí mật kinh doanh.
    • Dấu hiệu "quy mô thương mại" còn mang tính định tính, chưa có hướng dẫn liên ngành thống nhất cách xác định trị giá hàng hóa vi phạm và mức độ thiệt hại thực tế đối với tài sản vô hình.
    • Mức hình phạt tù tối đa đối với cá nhân (03 năm) còn thấp khi so sánh với luật hình sự các nước (Hoa Kỳ lên đến 20 năm, Trung Quốc lên đến 7 năm), làm giảm tính răn đe.
  • Định hướng giải pháp và kiến nghị:
    • Về lập pháp: Nghiên cứu sửa đổi Điều 226 BLHS theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng bảo hộ hình sự để bao quát các đối tượng SHCN khác phù hợp với Luật SHTT; xem xét tăng mức hình phạt tù đối với các trường hợp vi phạm đặc biệt nghiêm trọng; bổ sung hình phạt lao động cải tạo/lao động công ích như kinh nghiệm của Liên bang Nga.
    • Về áp dụng pháp luật: Ban hành thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn tiêu chí "quy mô thương mại", phương pháp giám định và định giá thiệt hại tài sản trí tuệ; tăng cường năng lực cho cơ quan điều tra và phối hợp liên ngành.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về Tội xâm phạm quyền SHCN, phân tích rành mạch cấu thành tội phạm theo Điều 226 BLHS năm 2015 qua các số liệu và vụ án thực tiễn điển hình. Tác giả đã chỉ ra sự tiến bộ của BLHS năm 2015 khi thay thế cụm từ định tính "phạm tội nhiều lần" bằng cụm từ định lượng "phạm tội 02 lần trở lên", đồng thời bổ sung các tiêu chí định lượng giá trị cụ thể (100 triệu, 200 triệu, 300 triệu, 500 triệu đồng).
  • Đề xuất của tác giả:
    1. Mở rộng diện đối tượng của tội phạm tại Điều 226 BLHS nhằm bảo vệ thêm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và bí mật kinh doanh.
    2. Nâng mức hình phạt tù tối đa của khung tăng nặng để tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP) và thông lệ quốc tế.
    3. Hoàn thiện các văn bản giải thích pháp luật và quy trình phối hợp xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.
  • Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Khóa luận bổ sung nguồn tài liệu phân tích chuyên sâu về tội danh xâm phạm quyền SHCN dưới góc độ BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017), làm rõ các điểm nghẽn giữa quy định pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành SHTT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Khóa luận tiếp cận đề tài thuần túy dưới góc độ khoa học luật hình sự thực định, phạm vi thực tiễn tập trung vào giai đoạn từ năm 2008 và phạm vi so sánh luật học giới hạn ở 03 quốc gia (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga). Các khía cạnh về quy trình tố tụng hình sự đặc thù đối với pháp nhân thương mại và phương pháp giám định tư pháp kỹ thuật chuyên sâu về sở hữu công nghiệp chưa được phân tích sâu do giới hạn phạm vi đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu xây dựng cơ chế giám định tư pháp về SHCN trong tố tụng hình sự; hoàn thiện quy trình khởi tố, điều tra, xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội xâm phạm quyền SHCN; đánh giá toàn diện tác động của các cam kết SHTT trong các FTA thế hệ mới đối với việc sửa đổi BLHS trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Sở hữu trí tuệ tại các cơ sở đào tạo luật.
    • Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) và cơ quan quản lý/thanh tra chuyên ngành (Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Hải quan).
    • Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp trong lĩnh vực xác lập và thực thi quyền SHTT.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng tổng hợp dấu hiệu định tội, định khung và hệ thống hình phạt áp dụng cho cá nhân và pháp nhân thương mại tại Chương 2.
    • Phân tích so sánh pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga) và các tiêu chuẩn TRIPS/CPTPP tại Chương 1.
    • Tuyển tập các ví dụ án thực tiễn minh họa cho các dạng hành vi xâm phạm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao Điều 226 BLHS năm 2015 chỉ bảo vệ đối tượng là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mà không bảo vệ các đối tượng SHCN khác?
Trả lời: Theo tác giả, xuất phát từ thực tiễn kinh tế Việt Nam, việc đăng ký và các hành vi vi phạm liên quan đến nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý diễn ra phổ biến nhất, gây thiệt hại trực tiếp và nghiêm trọng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Nhà làm luật đã lựa chọn bảo vệ hình sự trước mắt đối với hai đối tượng này và phi hình sự hóa các đối tượng khác để xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính. Tuy nhiên, khóa luận khẳng định đây là một khoảng trống pháp lý cần được sửa đổi mở rộng trong tương lai.

2. Điểm mới nổi bật nhất về chủ thể của Tội xâm phạm quyền SHCN trong BLHS năm 2015 là gì?
Trả lời: Điểm mới mang tính bước ngoặt là lần đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với Tội xâm phạm quyền SHCN (quy định tại khoản 4 Điều 226), với các chế tài kinh tế nghiêm khắc như phạt tiền từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm, cấm kinh doanh hoặc cấm huy động vốn.

3. BLHS năm 2015 đã khắc phục nhược điểm của tình tiết định khung tăng nặng trong BLHS năm 1999 như thế nào?
Trả lời: BLHS năm 1999 sử dụng cụm từ định tính chung chung là "phạm tội nhiều lần" gây khó khăn cho việc áp dụng. BLHS năm 2015 đã lượng hóa rõ ràng thành tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" (điểm b khoản 2 Điều 226), đồng thời bổ sung các tiêu chí định lượng giá trị tài chính cụ thể: thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên, gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.

4. Khóa luận rút ra bài học kinh nghiệm gì từ quy định hình sự về SHCN của Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga?
Trả lời: Tác giả chỉ ra: Trung Quốc áp dụng khung hình phạt tù cao (lên đến 7 năm) và ban hành các văn bản giải thích pháp luật liên ngành rất chi tiết; Liên bang Nga quy định đa dạng các hình phạt lao động cải tạo/lao động bắt buộc (đến 480 giờ hoặc 2 năm) thay vì chỉ có cải tạo không giam giữ; Hoa Kỳ có chế tài tù nghiêm khắc (10 đến 20 năm) và bảo hộ hình sự mạnh mẽ đối với cả bí mật kinh doanh.

5. Dấu hiệu "quy mô thương mại" (commercial scale) được luận giải như thế nào trong cấu thành tội phạm?
Trả lời: Dấu hiệu này vừa mang tính định tính vừa mang tính định lượng, đòi hỏi hành vi xâm phạm phải được thực hiện có chủ ý nhằm mục đích kinh doanh, đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường với số lượng hoặc tầm cỡ nhất định, thu lợi bất chính lớn. BLHS năm 2015 đã kết hợp ghi nhận yếu tố "quy mô thương mại" cùng các mốc tiền định lượng cụ thể để bảo đảm tương thích với Điều 61 Hiệp định TRIPS.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Huy là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tác giả đã phân tích toàn diện các yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ chế tài áp dụng cho cá nhân và pháp nhân thương mại, đồng thời đặt trong sự so sánh với chuẩn mực quốc tế và pháp luật của các quốc gia phát triển. Những bất cập được chỉ ra cùng các kiến nghị hoàn thiện điều luật và cơ chế thực thi mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, giảng dạy và áp dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam.