Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn của Bộ luật Hình sự năm 2015" do sinh viên Nguyễn Quốc Bảo (Mã sinh viên: 462842) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Kim Chi tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2025), thuộc chuyên ngành Luật Hình sự.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí của tội danh này trong Chương XXIV của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 – nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn thoát tuy có số lượng vụ án xảy ra không nhiều nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng đối với trật tự quản lý giam giữ của Nhà nước, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đe dọa an toàn xã hội. So với BLHS năm 1999, quy định tại Điều 376 BLHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy các tình tiết hành vi của chủ thể vẫn dễ gây nhầm lẫn với các tội danh khác trong cùng nhóm tội chức vụ tư pháp, trong khi chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền.

Về tình hình nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các tài liệu hiện có chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích khái quát cấu thành tội phạm trong các giáo trình (như Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội) hoặc các sách bình luận khoa học (TS. Phạm Mạnh Hùng, Đinh Văn Quế). Các công trình này chưa đi sâu vào giải quyết vướng mắc thực tiễn xét xử và chưa đánh giá toàn diện hiệu quả áp dụng của Điều 376 BLHS năm 2015.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm 3 nội dung chính:

  1. Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và các yếu tố pháp lý cấu thành tội thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thoát trong luật hình sự Việt Nam.
  2. Đánh giá ưu điểm, hạn chế và vướng mắc trong các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng tội danh này qua các bản án hình sự.
  3. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành tội phạm, chế tài xử lý tại Điều 376 BLHS năm 2015, dấu hiệu lỗi vô ý và sự thiếu trách nhiệm của chủ thể, cùng các số liệu, bản án xét xử thực tế. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là trên địa bàn cả nước; phạm vi thời gian là số liệu thống kê và các bản án thực tiễn trong giai đoạn 06 năm (từ năm 2019 đến năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và pháp lý dựa trên các nền tảng:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 14, Điều 20 về quyền bất khả xâm phạm về thân thể); BLHS năm 1985 (Điều 237); BLHS năm 1999 (Điều 301); BLHS năm 2015 (Điều 8 về khái niệm tội phạm, Điều 9 về phân loại tội phạm, Điều 11 về các hình thức lỗi, Điều 65 về án treo, Điều 367 về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Điều 376, Điều 378, Điều 379, Điều 388); Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 282 về đình chỉ vụ án); Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/5/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015 về hưởng án treo.
  • Pháp luật hình sự quốc tế: Điều 310F BLHS Úc năm 1900 (tội Permitting escape); Điều 755 Bộ luật Hình sự Mẫu Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (tội Officer permitting escape); Điều 400 BLHS Trung Quốc năm 1997.
  • Tài liệu học thuật: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm và Phần chung) của các cơ sở đào tạo luật trong nước; các sách chuyên khảo về cấu thành tội phạm của Nguyễn Ngọc Hóa (2015).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý, cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung tăng nặng.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể nhằm khảo cứu quá trình phát triển của điều luật qua BLHS năm 1985, 1999 và 2015.
  • Phương pháp luật học so sánh nhằm đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Úc, Hoa Kỳ và Trung Quốc.
  • Phương pháp thống kê số liệu và phân tích bản án thực tế: Tác giả sử dụng nguồn số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) giai đoạn 2019–2024 và phân tích chuyên sâu 04 bản án sơ thẩm, phúc thẩm tại các địa phương (Bạc Liêu, Gia Lai, Quảng Nam, Hà Giang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tam giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn

Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và lịch sử phát triển của tội danh:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả xây dựng định nghĩa: Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có nhiệm vụ trực tiếp hoặc được giao phó việc quản lý, giám sát, canh gác, áp giải người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù mà để những người này bỏ trốn do sự thiếu trách nhiệm trong công việc. Tội phạm có 3 đặc điểm cấu thành cơ bản: (1) Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS), đủ tuổi chịu TNHS và bắt buộc phải là người trực tiếp quản lý hoặc được giao phó nhiệm vụ quản lý, canh gác, áp giải; (2) Hậu quả trốn thoát của người bị giam, giữ là dấu hiệu bắt buộc; (3) Lỗi của người phạm tội bắt buộc là lỗi vô ý (vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do quá tự tin).
  • Ý nghĩa của việc quy định tội danh: Tác giả phân tích trên hai bình diện: Ý nghĩa xã hội (bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ trật tự tư pháp và củng cố niềm tin của nhân dân) và Ý nghĩa cá nhân (răn đe, nâng cao ý thức kỷ luật, cảnh giác và xây dựng văn hóa trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ thi hành công vụ).
  • Lịch sử lập pháp Việt Nam:
    • BLHS năm 1985 (Điều 237 - Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn): Chỉ quy định chung hành vi "thiếu trách nhiệm để người đó trốn", chưa cụ thể hóa các khâu hành pháp; chủ thể chỉ giới hạn ở người trực tiếp mà chưa bao quát người được giao phó nhiệm vụ; chỉ áp dụng đối với "người bị giam" mà bỏ sót người bị tạm giữ, tạm giam phục vụ điều tra.
    • BLHS năm 1999 (Điều 301 - Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn): Kế thừa cấu thành từ BLHS 1985, bổ sung hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ từ 1 đến 5 năm tại Khoản 4, nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các hành vi trong từng hoạt động quản lý, áp giải cụ thể.
  • Pháp luật hình sự một số nước trên thế giới:
    • BLHS Úc (Điều 310F): Tách biệt rõ ràng giữa lỗi cố ý cho phép trốn thoát (phạt tù tối đa 7 năm) và lỗi vô ý (phạt tù tối đa 2 năm); đồng thời mở rộng chủ thể đến nhân viên của các công ty tư nhân được thuê quản lý trung tâm cải tạo.
    • BLHS Hoa Kỳ (Điều 755): Phân hóa trách nhiệm dựa trên lỗi: cố ý phạt tù tối đa 5 năm hoặc phạt tiền; vô ý phạt tù tối đa 1 năm hoặc phạt tiền. Chủ thể là người có thẩm quyền giam giữ theo thủ tục của tòa án, thẩm phán.
    • BLHS Trung Quốc (Điều 400): Phân định giữa hành vi cố tình thả tự do trái phép (phạt tù đến 5 năm, nghiêm trọng từ 5 đến 10 năm) và hành vi do thiếu trách nhiệm nghiêm trọng dẫn đến bỏ trốn (phạt tù đến 3 năm hoặc từ 3 đến 10 năm dựa trên hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng).

Chương 2: Quy định của BLHS năm 2015 và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tam giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn

Chương 2 phân tích các quy định hiện hành và thực trạng áp dụng pháp luật:

  • Dấu hiệu pháp lý theo BLHS năm 2015 (Điều 376):
    • Khách thể: Xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án (Điều 367 BLHS), đồng thời gián tiếp xâm phạm an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
    • Mặt khách quan: Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về quản lý, canh gác, áp giải (như bỏ vị trí gác, ngủ gật, không khóa cửa buồng giam). Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là quan hệ nhân quả gián tiếp (hành vi thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho đối tượng trốn).
    • Mặt chủ quan: Lỗi vô ý (do cẩu thả hoặc quá tự tin). Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc.
    • Chủ thể: Chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ quản lý, canh gác, áp giải tại trại cải tạo, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc trong quá trình dẫn giải của cơ quan điều tra.
  • Tình tiết định khung tăng nặng:
    • Dựa trên tính chất nguy hiểm của đối tượng bỏ trốn: để người phạm tội rất nghiêm trọng bỏ trốn (Khoản 2: phạt tù từ 2 đến 7 năm); để người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng bỏ trốn (Khoản 3: phạt tù từ 5 đến 10 năm).
    • Dựa trên hậu quả: làm vụ án bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ (do hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc người phạm tội chết theo Điều 282 BLTTHS); người bỏ trốn trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm mới; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
    • Dựa trên số lượng người trốn: để từ 2 đến 5 người trốn (Khoản 2: tù 2 đến 7 năm); để từ 6 người trở lên trốn (Khoản 3: tù 5 đến 10 năm).
  • Hệ thống hình phạt: Hình phạt chính gồm phạt cải tạo không giam giữ (thể hiện tính nhân đạo, giáo dục) và phạt tù có thời hạn (tối đa 10 năm); hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm (Khoản 4 Điều 376).
  • Phân biệt với các tội danh khác:
    • Với Điều 378 (Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù): Điều 378 có lỗi cố ý, hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn, có động cơ và mục đích rõ ràng; trong khi Điều 376 có lỗi vô ý, hành vi là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định.
    • Với Điều 379 (Tội không thi hành án): Điều 379 có lỗi cố ý, chủ thể là người có thẩm quyền ra quyết định hoặc thi hành bản án (thẩm phán, cán bộ thi hành án ở cấp quản lý), hành vi là không ra quyết định hoặc không thi hành bản án; còn Điều 376 là lỗi vô ý của người trực tiếp quản lý, canh gác, áp giải.
  • Thực tiễn xét xử và những hạn chế:
    • Số liệu xét xử: Trong 6 năm (2019–2024), toàn quốc có 296.994 vụ án hình sự, trong đó chỉ có 05 vụ án liên quan đến Điều 376 (chiếm tỉ lệ 0,00017%). Các vụ án chủ yếu phát sinh tại các địa phương như Bạc Liêu, Hà Giang, Quảng Nam, Gia Lai, không xuất hiện tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
    • Hạn chế trong xác định tội danh: Khó phân biệt lỗi vô ý (Điều 376) và lỗi cố ý (Điều 378), thể hiện qua vụ án Lâm Quốc V (Bản án số 21/2023/HS-ST tại TAND TP. Bạc Liêu: cán bộ quản giáo mở cửa buồng giam cho 6 phạm nhân ngồi chờ rồi bỏ đi vệ sinh cá nhân, dẫn đến 1 phạm nhân trốn thoát).
    • Hạn chế trong quyết định hình phạt: Áp dụng hình phạt thiếu đồng nhất; tỷ lệ cho hưởng án treo cao (trong 4 bản án được nghiên cứu chi tiết thì có 2 bản án cho hưởng án treo), làm giảm tính răn đe.
    • Hạn chế trong xác định vai trò người phạm tội: Hoạt động quản lý giam giữ mang tính tập thể, phối hợp nhiều người, nhưng khi có sự cố lại chỉ truy cứu cá nhân trực tiếp (thể hiện qua Bản án số 11/2019/HS-ST tại TAND huyện Quang Bình, Hà Giang: Đoàn Thái S mở cửa quên khóa và Hoàng Đình V cùng chia cơm cho phạm nhân, nhưng chỉ có Đoàn Thái S bị truy cứu TNHS).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện:

Tiêu chí Dữ liệu / Kết quả từ văn bản khóa luận
Số lượng vụ án thực tế (2019–2024) 05 vụ án trên tổng số 296.994 vụ án hình sự cả nước (tỉ lệ 0,00017%)
Địa bàn xét xử thực tế Bạc Liêu, Hà Giang, Quảng Nam, Gia Lai
Khung hình phạt chính (Điều 376) Cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù: Khoản 1 (6 tháng – 3 năm), Khoản 2 (2 – 7 năm), Khoản 3 (5 – 10 năm)
Khung định lượng người trốn Khoản 2: từ 2 đến 5 người trốn; Khoản 3: từ 6 người trốn trở lên
Hình phạt bổ sung Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm
Thực tiễn áp dụng án treo (mẫu 4 bản án) 02 bản án cho hưởng án treo (Bản án 21/2023/HS-ST và Bản án 11/2019/HS-ST); 02 bản án chấp hành hình phạt giam/cải tạo (Bản án 06/2022/HS-PT và Bản án 02/2023/HS-ST)

Các đóng góp và giải pháp do tác giả đề xuất bao gồm:

  • Hệ thống hóa toàn diện các dấu hiệu lý luận của Điều 376 BLHS năm 2015, làm rõ tính chất của mối quan hệ nhân quả gián tiếp và yếu tố lỗi vô ý (do cẩu thả hoặc quá tự tin).
  • Phân tích ranh giới pháp lý giữa Điều 376 với các tội danh tương đồng (Điều 378, Điều 379, Điều 388), hỗ trợ công tác định tội danh chính xác.
  • Chỉ ra các bất cập trong việc áp dụng án treo quá nhiều đối với tội danh chức vụ tư pháp và vấn đề dồn trách nhiệm cho một cá nhân khi công tác quản lý trại giam là quy trình phối hợp tập thể.
  • Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể đối với Điều 376 BLHS năm 2015 nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế xuất phát từ phạm vi và nguồn dữ liệu:

  • Số lượng vụ án thực tế về tội danh này trên toàn quốc trong giai đoạn 2019–2024 rất thấp (chỉ 5 vụ án), dẫn đến dung lượng dữ liệu thực tiễn và số lượng bản án tiếp cận để phân tích chuyên sâu còn hạn chế (khóa luận phân tích chi tiết 4 bản án).
  • Tội danh chưa có nghị quyết hướng dẫn thi hành riêng từ Hội đồng Thẩm phán TANDTC nên việc phân tích nguyên nhân áp dụng pháp luật chưa thống nhất chủ yếu dựa trên các vụ án cá biệt tại cấp huyện/tỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài:

  • Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu thực tiễn xét xử khi TANDTC ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 376 BLHS năm 2015.
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế phân định trách nhiệm liên đới giữa các cá nhân cùng tham gia ca trực hoặc các cấp quản lý trong quy trình giam giữ, áp giải.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự, Tố tụng hình sự và Khoa học điều tra tội phạm tham khảo về phương pháp phân tích cấu thành tội phạm chức vụ tư pháp.
  • Cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc nghiên cứu các tiêu chí phân biệt lỗi vô ý (Điều 376) và lỗi cố ý (Điều 378, Điều 379) để giải quyết các vụ án liên quan đến quản lý giam giữ.
  • Cán bộ quản lý trại giam, cơ sở tạm giữ, lực lượng cảnh sát tư pháp và cảnh sát áp giải tham khảo nhằm nắm rõ các nguy cơ sai phạm pháp lý trong quá trình thực hiện nhiệm vụ canh gác, dẫn giải.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ cốt lõi để phân biệt Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn (Điều 376) và Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù (Điều 378) là gì? Căn cứ cốt lõi là dấu hiệu lỗi và hành vi khách quan:

  • Điều 376 mang lỗi vô ý (do cẩu thả hoặc quá tự tin), thể hiện qua hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy trình quản lý, canh gác, áp giải; người phạm tội không có động cơ, mục đích tha người.
  • Điều 378 mang lỗi cố ý, thể hiện qua hành vi lợi dụng chức vụ (tự ý ra quyết định tha khi không có căn cứ) hoặc lạm dụng chức vụ (không có thẩm quyền nhưng cố tình thả tự do cho người bị giam giữ), có mục đích và động cơ phạm tội rõ ràng.

2. Số lượng người bỏ trốn được quy định như thế nào trong các khung hình phạt tăng nặng tại Điều 376 BLHS năm 2015? Số lượng người bỏ trốn được định khung theo hai mức:

  • Để từ 2 đến 5 người bỏ trốn thuộc tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 376, với khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • Để từ 6 người trở lên bỏ trốn thuộc tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 3 Điều 376, với khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

3. Tỷ lệ và đặc điểm phân bố địa bàn của các vụ án xét xử theo Điều 376 trong giai đoạn 2019–2024 theo số liệu TANDTC là gì? Theo số liệu của TANDTC, từ năm 2019 đến năm 2024, toàn quốc ghi nhận 5 vụ án liên quan đến tội danh này trên tổng số 296.994 vụ án hình sự, chiếm tỉ lệ 0,00017%. Các vụ án không xuất hiện tại các đô thị lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh mà xảy ra tại các địa phương gồm Bạc Liêu, Hà Giang, Quảng Nam và Gia Lai.

4. Khóa luận chỉ ra hạn chế gì trong việc phân định trách nhiệm tập thể qua vụ án xét xử tại TAND huyện Quang Bình (tỉnh Hà Giang)? Trong Bản án số 11/2019/HS-ST, cán bộ Đoàn Thái S và chiến sĩ nghĩa vụ Hoàng Đình V cùng phối hợp chia cơm cho phạm nhân. Đoàn Thái S mở cửa buồng giam số 11 rồi quên khóa cửa, dẫn đến phạm nhân trốn thoát. Tòa án chỉ truy cứu TNHS đối với cá nhân Đoàn Thái S vì là người trực tiếp giữ chìa khóa và mở cửa, còn Hoàng Đình V không bị truy cứu. Tác giả chỉ ra rằng công tác giam giữ là hoạt động phối hợp tập thể nhưng thực tiễn xét xử có xu hướng chỉ quy trách nhiệm cho cá nhân trực tiếp, chưa đánh giá toàn diện trách nhiệm phối hợp của các thành viên khác trong ca trực.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quốc Bảo đã phân tích có hệ thống các quy định của BLHS năm 2015 về tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn trên cả phương diện lý luận, lịch sử lập pháp và luật học so sánh. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê của TANDTC và các bản án xét xử giai đoạn 2019–2024, công trình đã làm rõ những vướng mắc thực tiễn trong việc định tội danh, áp dụng hình phạt và phân định trách nhiệm cá nhân trong quy trình quản lý giam giữ. Các đề xuất hoàn thiện và kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn thi hành trong khóa luận mang giá trị thực tiễn đối với công tác lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam.