Chương 1: Giói thiệu về đề tài nghiên cứu Nhóm tác giá tập trung giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cửu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc cùa đề tài. Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu Nhóm tác giá sẽ tập trung phân tích về cơ sờ lý thuyết, thực trạng vấn đề nghiên cứu, câu hói nghiên cửu, giả thuyết nghiên cứu và cuối cùng là mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nhóm tác giá sẽ trình bày thiết kế bàng câu hỏi nghiên cứu, sơ đồ nghiên cứu, các phương pháp thu thập dừ liệu, cuối cùng là phương pháp xứ lý và phân tích dừ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nhóm tác giá tập trung vào thực hiện thong kê mô tà, phân tích các kết quả nghiên cứu thông qua kiêm định độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tổ khám phá EFA, phân tích ma trận tương quan Pearson, phân tích hồi quy và cuối cùng là tháo luận về kết quá nghiên cứu.
Chương 5: Hàm ý quản trị Dựa vào các kết quá phân tích được ớ chương 4, nhỏm tác giả sẽ kết luận, đưa ra các nhân tố có ảnh hường tới ý định sử dụng Blockchain trong tuyên dụng cũng như đề ra một số giái pháp giúp các nhà tuyển dụng có thế tiếp cận được với Blockchain nhằm tận dụng tổi đa nhưng lợi ích có được từ nền tảng này đô đạt được hiệu quả công việc cao hơn. Đồng thời nhóm cũng đưa ra nhừng hạn che trong quá trinh thực hiện và hướng đi mới cho các bài nghiên cửu tiếp theo. 11 CHƯƠNG 2: TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu Ó chương 2, nhóm tác giá đồ cập một sổ cơ sớ lý thuyết cũng như các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan đên đê tài nhăm phục vụ cho việc xây dựng mô hỉnh nghiôn cứu cũng như hình thành nôn các giả thuyết giừa các biến với nhau. Khái niêm cơ bản 2.
Blockchain Nakamoto (2008) - người đầu tiên khới xướng và giới thiệu về công nghệ Blockchain đà định nghĩa rằng công nghệ chuồi khối là một sô cái có tính chất phi tập trung, phân tán và lưu trừ nguồn của các tài sản kỳ thuật sổ. Công nghệ này có chức năng chống những thông tin giá mạo, tạo điều kiện ghi lại các giao dịch và theo dõi tài sản trong mạng lưới kinh doanh (PwC, 2017a; Hsiao và cộng sự, 2018). Vậy Blockchain sớ hữu cho minh những cơ chế đặc biệt nào mà lại có nhũng tính năng hữu ích trên? Câu tra lời nằm ở nguyên lý hoạt động của nó (Hình 2. Cụ thể, danh sách các bản ghi khi nhập vào hệ thống sè được bảo mật, liên kết và xác định bang một hàm băm mật mà học, từ đó tạo thành những khối được đánh dấu thời gian.
Các khổi này sẽ được kết nối theo trinh tự thời gian qua các nút chứa hàm băm cùa khối trước đó để tạo ra một chuồi các khối xuyên suổt (Crosby và cộng sự, 2016). Các khối thông tin này hoạt động độc lập, có thể mờ rộng theo thời gian. Chúng được quản lý bơi những người tham gia hệ thống chứ không thông qua đơn vị trung gian, hay nói cách khác chuồi khối loại bỏ nhu cầu xác thực của bên thứ ba thông qua việc sừ dụng cơ chế đồng thuận về trạng thái sô cái. Cơ chế này sẽ giúp tất cá các nút trên chuồi khối được đồng bộ hóa với nhau bằng một quyêt định tông thê duy nhất tại một thời diêm.
Sau đó, giao dịch trớ thành vinh viền ngay sau khi được ghi lại và xác minh (Turkanovic và cộng sự, 2017). Do đỏ, khi một khối thông tin được ghi vào hệ thống Blockchain thi không có cách nào thay đổi được mà chí có thê bổ sung thêm khi đạt được sự đồng thuận của tất cả mọi người, điều này sẽ làm tăng tính minh bạch và tin cậy cúa dừ liệu trên hệ thống công nghệ này. 12 giao dịch nny bộ mọng lưw người dũng Block mót vo giao dịch trong tùng hẻ thống (Nguôn: Nhóm tác giả tông hợp) Hình 2. Nguyên lý hoạt động của Blockchain 2.
Human Resource Management (HRM) Theo Armstrong và Taylor (2014), thuật ngừ HRM được định nghía là một cách tiổp cận có chiến lược, tích hợp và chặt chẽ đối với việc làm, sự phát triển và phúc lợi của những người làm việc trong các tô chức. Ngoài ra, theo Aswathappa (2017), HRM là khái niệm đề cập đến viộc áp dụng các nguyên tắc quản lý đế quán lý con người với nhiệm vụ lập kê hoạch, tuyên dụng, lựa chọn, đào tạo, phát triên, trà lương và giừ chân các thành viên cho một tố chức. Có thể thấy, mặc dù cỏ nhiều cách định nghĩa về HRM, nhưng nhìn chung, đây chính là lình vực có nhiệm vụ áp dụng các hoạt động hoặc chức năng nhất định để quán lý nhân viên trong một tố chức nhằm đạt được các mục tiêu đã đê ra. Hiện nay, với sự phát triên của công nghệ kỳ thuật sổ, HRM đà có nhũng bước tiên đáng kê, tạo ra những hình thức quán trị nhân sự mới mé, tiên bộ và hiện đại hơn.
Trong đó, không thể không nhắc tới Quàn lý nguồn nhân lực điện tứ (e-HRM). E- HRM được định nghía là cách thực hiện các chiên lược, chính sách và thực hành nhân sự trong các tô chức thông qua sự hồ trợ cùa các kênh dựa trên công nghệ web (Ruel và cộng sự, 2006) và rộng hơn là việc lập kế hoạch, triên khai và ứng dụng hệ thông thông tin cho cả mạng lưới và các bên hồ trợ trong việc thực hiện các hoạt động nhân sự (Strohmeier, 2007). E-HRM có khà năng cải thiện hiệu quá và giám chi phí liên quan đến HRM (Buckley và cộng sự, 2004) cũng như hồ trợ hoạt động HRM truyền thống như tuyển dụng, đào tạo, quán lý hiệu suất và các hoạt động chuyển đổi làm lãng giá trị cho tô chức (Thite và Kavanagh, 2012). 13 Một trong nhừng lĩnh vực đang được quan tâm và cân nhăc thực hiện trên nên tảng c-HRM chính là tuycn dụng.
Đây là quá trinh khám phá các ứng viên liềm năng cho các vị trí công việc của lổ chức (Sangeetha, 2020). Mục tiêu của tuyển dụng là đạt được kết quả với chất lượng và số lượng lốt nhất. Tại thời điếm hiện nay, phái thừa nhận rằng công nghệ đã có nhừng ảnh hường đáng kê đến toàn bộ vòng đời của quá trình tuyên dụng (Nikolaou, 2021). Do đó, việc nắm bắt xu hướng cùa thời đại và áp dụng công nghệ trong tuyển dụng để lựa chọn đúng người cỏ một ý nghĩa sâu sắc đối với sự thành công cua một công ty.
Lợi ích Clia Blockchain trong HRM Theo nghiên cứu gần đây của Ahmed và cộng sự (2019) công nghệ chuồi khối hoàn toàn cỏ thể hồ trợ trong công tác HRM nói chung và quy trình tuyến dụng nói riêng, cụ thế hơn là trong bốn lĩnh vực phố biến, bao gồm: Xác thực thông tin, Tính lương, Kết nổi công việc phù họp và Quán lý danh tính. Đê làm được điêu đó, Blockchain đem đến cho nhà tuyên dụng những khả năng giúp họ họp lý hoá các quy trinh thiết yếu, từ đó tinh gọn các bước không phù hợp đối với từng doanh nghiệp cụ the, đồng thời hạn chế tiêu hao tài nguyên lố chức như thời gian, tiền bạc và nhân lực (Yi và cộng sự, 2020). Đầu tiên, Blockchain là công cụ đáng tin cậy đế xác minh lịch sử của người đăng ký (Aishwarya, 2018), giúp nhà tuyên dụng tiết kiệm chi phí liên lạc và hậu cần cho mục đích xác minh ứng viên (Hegadekatti, 2018). Thử hai, công nghệ này gián tiếp cung cấp một cơ sờ dừ liệu về khoáng thu nhập dựa vào thông tin của các ứng viên và nhà tuyên dụng đà cung cấp trên hệ thống, từ đó giúp cho việc khảo sát tiền lương trờ nên đơn gián và tiết kiệm hơn rất nhiều.
Nhờ vậy, các nhà quản lý HRM cỏ thê nhanh chóng xác định mức lương cạnh tranh và công bang cho ứng viên trôn thị trường lao động, nhưng vẫn đảm bão tính ân danh cho các cá nhân và tô chức đà cung cấp thông tin (Salah và cộng sự, 2020). Thử ba, nhờ vào việc lưu trừ thông tin tiếu sứ “hành nghề1’ cũng như hiệu suất làm việc cùa ứng viên, Blockchain giúp nhà tuyên dụng dê dàng truy cập vào “quá khử" của người lao động. Điều này giúp họ có thê đánh giá xem ứng viên đó có phái là ứng viên phù hợp đê đám nhiệm vai trỏ cùa vị trí đang ứng tuyên hay không (Salah và cộng sự, 2020). Đong thời, Blockchain cũng cho phép loại bó các trung gian như Headhunter, tạo cơ hội đê ứng viên tiếp cận được các nhà tuyên dụng nhanh chóng 14 hơn (Koncheva và cộng sự, 2019).
Cuối cùng, Blockchain cung cấp cho ứng vicn cơ hội xây dựng, chính sửa và gửi cv của họ trong một môi trường hoàn toàn minh bạch nhưng vân được báo vệ (Konchcva và cộng sự, 2019). Trong khi đó, nhà tuyến dụng có thố nhận được dù' liệu chi tiết về thông tin liên lạc của ứng viên, công việc trước đây, tiến trình thăng chức, năng lực, đào tạo, lương và đánh giá hiệu quả đào tạo, kỳ năng, kinh nghiệm công việc được xác nhận ờ chế độ tự động bàng các công cụ đồng thuận (Wang và cộng sự, 2017). Như vậy, điều đó giúp nhà tuyên dụng dề dàng quản lý danh tính ứng viên. Nhìn chung, kêt quà nghiên cứu trước đây đêu thừa nhận răng, Blockchain là hệ thống hừu ích trong công tác HRM bời tính năng đặc biệt mà công nghệ này mang lại.
Các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết sự phù họp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) Trong những thập ký trước đây, việc sử dụng các hệ thống thông tin nhằm cái thiện hiệu suất cùa tô chức hoặc cá nhản đà được nhiều doanh nghiệp sử dụng, tuy nhiên việc đánh giá lính hiệu quá là rất khó khăn, khi hầu hết chỉ dựa vào đánh giá cảm nhận của người dùng đang trái nghiệm hệ thống. Do đó, phần lớn những đánh giá này chi mang yếu tố chủ quan, thiếu nền táng lý thuyết vừng chắc, khiến cho phương pháp đánh giá trên không đú sức thuyết phục (Goodhue, 1995). Trong bổi cảnh đỏ, Mô hình sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) đà ra đời nhàm cung cấp một giải pháp thay thế hiệu quả (Goodhue và Thompson, 1995).
Ve mặt lý thuyết, Mô hình sự phù họp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) cho rằng các đánh giá của người dùng sè không ngầu nhiên mà sè phán ánh các đặc điếm khách quan cua một hệ thống (D’ambra và Wilson, 2004).