Đặt vấn đề Khoáng sản là nguồn tài nguyên quý báu, vừa là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước vừa là nguồn dự trữ lâu dài của quốc gia. Nguồn lợi từ khai thác khoáng sản đã đóng góp rất lớn vào ngân sách quốc gia, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là nguyên liệu cho rất nhiều ngành kinh tế như sản xuất năng lượng, vật liệu xây dựng, công nông nghiệp. Bên cạnh vai trò to lớn của khoáng sản thì hoạt động khai thác khoáng sản cũng cần được quy hoạch và quản lý chặt chẽ, khoa học và hiệu quả để khai thác hợp lý, bền vững, tiết kiệm đồng thời bảo vệ môi trường, hài hòa lợi ích với các bên liên quan tại khu vực có khoáng sản [1]. Theo Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 thì “Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước phục vụ phát triển bền vững cho từng thời kỳ”.
Công tác lập quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản nói chung là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước, là cơ sở để cấp phép và quản lý hoạt động khoáng sản. Đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường thuộc phạm vi quản lý của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, việc khai thác, sử dụng khoáng sản được tích hợp vào Quy hoạch tỉnh và phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với chiến lược khoáng sản và quy hoạch khoáng sản quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảo đảm an ninh, quốc phòng; bảo đảm khai thác, sử dụng khoáng sản hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác [2]. Vật liệu san lấp thường có diện phân bố rộng, để chọn diện tích đưa vào phương án quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản ở địa phương trong từng kỳ quy hoạch cần thiết phải thực hiện khảo sát đánh giá chất lượng, trữ lượng 2 nhằm đạt hiệu quả trong công tác quản lý và cấp phép sau này. Như vậy, trước tiên diện tích khảo sát phải được xác định trên cơ sở chọn vị trí tối ưu nhất trong toàn bộ diện tích triển vọng về vật liệu san lấp.
Hiện nay với tốc độ phát triển nhanh của kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành nghề hay tổ chức, cá nhân đang nảy sinh mâu thuẫn trên cùng một vị trí không gian, đồng thời yêu cầu bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn dẫn đến việc phân vùng mức độ ưu tiên cho khảo sát quy hoạch khoáng sản càng trở nên cần thiết. Đây một bài toán đánh giá đa tiêu chí dựa trên các nguyên tắc lập quy hoạch và chiến lược khoáng sản, phải đảm bảo các mặt: hiệu quả về kinh tế, giảm thiểu tác động đến xã hội và bảo vệ môi trường. Việc xây dựng các tiêu chí đáng, giá lựa chọn và phân vùng mức độ ưu tiên khảo sát sẽ giúp các nhà quản lý, chuyên môn lựa chọn được vùng có mức độ ưu tiên từ cao nhất trở xuống, tương ứng với mục tiêu đảm bảo hài hòa nhất về các lợi ích. Để việc phân vùng có cơ sở khoa học thì phương pháp đánh giá đa tiêu chí có trọng số tích hợp với hệ thống thông tin địa lý GIS được chọn lựa để giải quyết bài toán.
Trên cơ sở đó các nhà quản lý có thêm cơ sở tài liệu khoa học cho việc đánh giá các vị trí đã được chọn lựa khảo sát quy hoạch khoáng sản đồng thời để tham khảo trong việc điều chỉnh quy hoạch khoáng sản trong thời gian tới. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Phân vùng mức độ ưu tiên khảo sát vật liệu san lấp để đưa vào quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường cho phần đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mục tiêu cụ thể: - Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá ảnh hưởng đến việc lựa chọn vùng khảo sát vật liệu san lấp. - Áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP để tính trọng số cho các tiêu chí đánh giá.
3 - Tích hợp phương pháp phân tích đa tiêu chí và công nghệ GIS để lập bản đồ phân vùng mức độ ưu tiên khảo sát VLSL. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các diện tích triển vọng khoáng sản làm vật liệu san lấp (trừ cát sỏi lòng sông và lòng hồ). Phạm vi nghiên cứu: Phần đất liền của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Đánh giá các tiêu chí ảnh hưởng đến việc lựa chọn một diện tích không gian bằng phương pháp đánh giá đa tiêu chí có trọng số tích hợp với chồng lớp trong ứng dụng GIS để lập bản đồ phân vùng các cấp độ thích hợp của việc lựa chọn diện tích cho một mục tiêu cụ thể đã xác lập.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc đánh giá các tiêu chí có trọng số và chồng lớp bản đồ để phân vùng ưu tiên chọn lựa khảo sát giúp việc lựa chọn vùng khảo sát quy hoạch có cơ sở tiền đề khoa học, rõ ràng, trực quan, hiệu quả. Trên cơ sở đó, việc lựa chọn khảo sát trong mỗi kỳ quy hoạch cụ thể sẽ đánh giá bổ sung thêm các yếu tố thực tiễn. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiên 1.982,56 km2, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 5 huyện (1 huyện đảo). Khu vực nghiên cứu của đề tài là phần đất liền rộng 1.906,78km2; phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Nam và Nam là biển Đông. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 1. Đặc điểm địa hình Địa hình phần đất liền Bà Rịa – Vũng Tàu có khuynh hướng thấp dần từ phía Đông Bắc xuống phía Nam và Tây Nam.
Phía Bắc là vùng gò đồi, cao 200- 300m. Phía Nam và Đông là vùng đồng bằng và đồi thấp, với các núi sót kéo dài theo phương Bắc Nam cao 100-500m. Dọc sông Thị Vải là các trũng tích tụ đầm lầy biển, hiện tại là các rừng ngập mặn. Bán đảo Vũng Tàu có dạng dải 5 h p, kéo dài phương Đông Bắc – Tây Nam.
Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn. Thềm lục địa rộng trên 100. Phần lớn diện tích Bà Rịa - Vũng Tàu có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc phổ biến là dưới 3o (41,03% diện tích) và từ 3o - 8o (39,6% diện tích), chỉ có khoảng 5,24% diện tích có độ dốc trên 25o , do vậy nhìn chung thuận lợi cho bố trí sử dụng đất. Địa hình của tỉnh có 3 dạng địa hình chính: + Địa hình đồi núi thấp: Bao gồm các núi sót rải rác, với độ cao thay đổi từ 200-700 m, trong đó đỉnh cao nhất là đỉnh Mây Tào cao 704 m ở ranh giới phía Đông tiếp giáp tỉnh Bình Thuận.
Ở phía Tây có các cụm núi trung bình là: núi Châu Viên cao 327m, núi Ngang 214 m, núi Hòn Thung 210 m; Núi Dinh 491 m, núi Tóc Tiên 428 m, núi Nghệ 203 m; núi Nưa 183 m, núi Lớn (Tương Phùng) 245 m, núi Nhỏ (Tương Kỳ) 245 m. Các núi này đều có độ dốc cao, cấu tạo bởi đá macma axit có hạt rất thô, thảm thực vật cạn kiệt và tầng đất rất mỏng. + Địa hình đồi lượn sóng: Có độ cao từ 20-150 m, bao gồm những đồi đất bazan, tạo thành những “chùy” chạy theo hướng Bắc xuống Tây Nam. Trái ngược với những núi thấp, địa hình này bằng, thoải, độ dốc chỉ khoảng 1- 8o.
Loại địa hình này chiếm diện tích lớn nhất so với các dạng địa hình khác, bao trùm gần hết là khối đất bazan, một ít là phù sa cổ và các cồn cát. Địa hình đồi lượn sóng trải dài từ phía Bắc tỉnh xuống phía Nam thuộc các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc. + Địa hình đồng bằng: Có thể chia địa hình đồng bằng ở Bà Rịa - Vũng Tàu thành hai dạng sau: • Bậc thềm sông có độ cao từ 5-10 m, có nơi cao 2-5 m, dọc theo các sông và tạo thành từng dải h p có chiều rộng rất thay đổi từ 4-5m đến 10-15 m. Đất ở đây thường có chất lượng khá tốt và vì vậy hầu hết đã được khai thác đưa vào sử dụng.
Dạng địa hình này thuộc các huyện Long Điền, Đất Đỏ, TP. Bà Rịa, một phần của TX. Phú Mỹ, huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức. 6 • Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển và đầm mặn: là địa hình thấp nhất toàn tỉnh, với cao trình từ 0,3-2 m, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn che phủ.
Địa hình này cấu tạo từ những vật liệu không thuần thục, bở rời, có nhiều sét và vật liệu hữu cơ. Dạng địa hình này tập trung ở khu vực ven sông, biển thuộc TX. Phú Mỹ, TP. Vũng Tàu, TP.
Bà Rịa, huyện Long Điền và huyện Đất Đỏ. Phân mức địa hình vùng nghiên cứu 1. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất ít khi có bão; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, có 7 gió mùa Tây Nam.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có gió mùa Đông Bắc. Theo số liệu thố ng kê ở Trạm Khí tượng Vũng Tàu từ năm 2015-2019: Nhiệt độ trung bình 28,1°C; thấp nhất 27,94°C ( trung bình năm 2018); cao nhất 28,17o C (trung bình năm 2019). Độ ẩm trung bình 76,72-78,33%; thấp nhất 76,72% (năm 2019). Số giờ nắng rất cao, trung bình 2.
Lượng mưa trung bình năm từ 1066,6mm (năm 2019) đến 1738,1mm (năm 2017). Lượng bốc hơi trung bình năm 1. Tốc độ gió trung bình 3-5,7m/s; gió Đông Bắc tốc độ trung bình từ 5,2-5,7m/s và gió Tây Nam tốc độ gió trung bình là 3-4,1m/s, cực đại không quá 30 m/s). Bà Rịa – Vũng Tàu có mạng lưới sông, suối, ao hồ rộng khắp nhưng phần lớn là những sông, suối nhỏ.