Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tín ngưỡng” (信仰) được ghép bởi từ “tín” (信) hiểu là “tin tưởng/ lòng tin/ niềm đức tin”, từ “ngưỡng” (仰) hiểu là “ngưỡng mộ/ ngưỡng vọng/ ngưỡng - ngẫng lên” hoặc hiểu theo nghĩa xa hơn là “sự kính mến” [12, tr. Điều 2 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo ghi “tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [56].
Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn “tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với “cái trần tục” hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng, niềm tin của “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin của cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người” [73, tr. Có những quan điểm đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo nhưng vẫn có quan điểm cho thấy sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo như quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm trong quyển Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam thì “đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời và khi trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng).
Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có 14 giáo chủ, cơ sở thờ tự v. tín ngưỡng có thể trở thành tôn giáo” [70, tr. Tín ngưỡng không có đầy đủ yếu tố cấu thành hệ thống như tôn giáo.
Điều quan trọng của tín ngưỡng là đức tin vào cái thiêng nhưng chỉ có niềm tin vào cái thiêng thì tín ngưỡng và mê tín có khi đồng nhất. Ở đây, chúng tôi không phân tích sâu khái niệm mê tín dị đoan mà chỉ quan niệm theo nghĩa phổ quát, đó là “sự tin tưởng một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn hại sức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội” [43, tr. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm tín ngưỡng hay tục thờ là hệ thống giá trị niềm tin mang đặc trưng tính tâm linh do con người tạo ra nhằm gửi gắm những nguyện vọng, mong ước đến một đối tượng được thần thánh hóa hay thế lực siêu nhiên để được che chở, cứu rỗi tránh khỏi những bất trắc, tai họa hay những nỗi sợ hãi về tinh thần trong thế giới quan mà con người đang sinh sống nhằm mục đích hướng con người đến những giá trị đạo đức tốt đẹp. Tác giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “nếu tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng), thì văn hóa tín ngưỡng có thể được hiểu là “văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [17, tr.
Còn theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ hiện tượng và giá trị văn hóa được sản sinh, tích hợp, bảo lưu trong môi trường tôn giáo tín ngưỡng, thỏa mãn nhu cầu về nhận thức, lối sống, ứng xử và thẩm mỹ của con người. Chúng là hiện tượng phái sinh gắn bó với tôn giáo và lễ hội. Đó là những hiện tượng văn hóa như múa nghi lễ, múa thiêng, tranh thờ, lễ hội, một số hiện tượng văn học dân gian gắn với tín ngưỡng” [74, tr. Tín ngưỡng chính là môi trường sản sinh, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian.
Con người muốn gửi gắm ước nguyện của mình đến thần linh thì cần phải có các công cụ, phương tiện như: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật, nơi thờ cúng, 15 v. Như vậy, văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một đức tin nhất định, rồi tích hợp các giá trị văn hóa khác như: di tích, lễ hội, truyền thuyết dân gian, diễn xướng, nghệ thuật có liên quan. Từ góc độ tiếp cận những giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể thông qua cơ sở thờ tự, nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian, địa danh và lễ hội có liên quan đến các hình thái tín ngưỡng sùng bái con người; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt v. thì văn hóa tín ngưỡng được hiểu là “hệ thống giá trị về cung cách ứng xử của con người đối với môi trường sống (tự nhiên và xã hội) nhằm đạt được những ước vọng tốt lành cho cuộc sống của mình.
Sản phẩm của những cung cách ứng xử ấy vừa phản ánh các điều kiện tương ứng với môi trường sống vừa hàm chứa tri thức dân gian được đúc kết qua lịch sử được thể hiện dưới một cấu trúc đa tầng của những ý nghĩa ẩn thị và hiển thị” [80, tr. Nữ thần và mẫu thần Theo quan niệm dân gian, nữ thần là lực lượng tạo tác ra vũ trụ, loài người hoặc là những vị nữ tướng hy sinh vì dân vì nước, những người nữ có công giúp dân khai mương, xây cầu, lập chợ, truyền dạy kinh nghiệm sản xuất, những người bà, người mẹ, người chị có tài năng hoặc đức cao vọng trọng. Từ đó, người dân đã tạo tác ra những điều kỳ vĩ nhằm nâng lên thế giới tâm linh như một giao thức thần thánh hóa tôn vinh lên hàng nữ thần. Do vậy, nữ thần là những người phụ nữ mà đó là nhân vật lịch sử hay nhân vật truyền tích/huyền thoại hoặc vạn vật được người dân nhân cách hóa mang tính nữ và thần thành hóa để thờ phụng với niềm đức tin, ngưỡng vọng của mỗi người hoặc của cộng đồng.
Trong đó, có vị được tôn vinh là mẫu thần - thánh mẫu. Như vậy, “mẫu thần có xuất thân từ nữ thần nhưng không phải nữ thần nào cũng đều là mẫu” [75, tr. Vì vậy, theo quan niệm của chúng tôi về mẫu thần là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ gắn liền với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ (trời, đất, sông, nước, núi, rừng) được con người cho rằng có 16 quyền năng như Mẹ làm sinh sôi nảy nở, che chở cho cuộc sống của con người, phù hộ cho người yên vật thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp con người thoát khỏi thiên tai, địch họa. Tín ngưỡng nữ thần là một loại hình tín ngưỡng dân gian của tộc người Việt, Hoa, Khmer trên vùng đất Sa Đéc, được hình thành từ ngàn đời xưa đối với mỗi tộc người, đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc.
Cho đến nay, tín ngưỡng nữ thần vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của người dân. Như vậy, tín ngưỡng nữ thần là một bộ phận của ý thức xã hội để tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng là đại diện tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội và được tôn thờ lên hàng thần - thánh để người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ, phù hộ, độ trì của các lực lượng siêu nhiên này. Cho dù hiểu như thế nào thì vị trí của nữ thần trong tiềm thức của người Việt luôn là sự thành kính, sự tôn trọng trong đời sống của họ. Sa Đéc nói riêng và Nam Bộ nói chung là vùng đất đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự mở thoáng, sự bao dung, sự hòa hợp lẫn nhau của các tôn giáo, vì thế ở đồng bằng sông Cửu Long theo thống kê năm 2008 của Cục Văn hóa cơ sở hiện nay có 1.966 lễ hội cả nước [14].
Theo số liệu thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Hồng, đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có 683 lễ hội (trong đó, có 635 lễ hội tại đình, 10 lễ hội tại đền, 23 lễ hội tại miếu, 9 lễ hội tại lăng - dinh - miếu thờ cá ông và 6 lễ hội tại dinh - lăng - mộ - điện - gò) [33, tr. Kết quả thống kê trên cho thấy mặc dù số lượng lễ hội tại miếu là không nhiều, nhưng nếu dày công khảo sát thì số lượng miếu thờ là rất phong phú. Nhân vật được thờ tự trong các miếu gồm nhiều thần linh, không gian thờ bao phủ từ cộng động làng xã đến từng hộ gia đình. Bảo tồn và phát huy “Bảo tồn” theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là “giữ lại cho nguyên vẹn, không để cho suy suyển, mất đi như là bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc”, còn “phát huy” là “làm cho cái hay, cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [99, tr.
Theo cách hiểu của Nguyễn Lân, “phát huy là làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên” [40, tr. Như vậy, chúng tôi tiếp thu các quan điểm trước đó để đưa ra nhận định về bảo tồn là những hoạt động đưa ra nhằm mục đích giữ gìn các giá trị và bảo vệ sự tồn tại của đối tượng trong hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể theo dạng thức vốn có của nó trong quá khứ. Phát huy là quá trình vận dụng các cách thức, phương pháp để làm cho giá trị văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) tồn tại được trong bối cảnh xã hội hiện tại như chính giá trị bản chất vốn có của nó với những mặt tích cực phải được giữ gìn, phát triển và những mặt tiêu cực, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại thì cần phải hạn chế và loại bỏ. Hiểu theo cách khác, phát huy có nghĩa là những hành động nhằm đưa các giá trị văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội.