Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40) của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Mai Sa, do TS. Đỗ Lan Phương hướng dẫn khoa học, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2024. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Văn hóa của Gia đình Phật tử tại Đà Nẵng".
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Xã hội đương đại đang chứng kiến sự hồi sinh và phát triển của các tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Phật giáo. Trước những áp lực về học tập, kinh tế, gia đình, tệ nạn xã hội và sự suy giảm niềm tin xã hội, thanh thiếu niên là nhóm đối tượng chịu tác động mạnh mẽ nhất. Họ có nhu cầu tìm kiếm điểm tựa tinh thần để giải tỏa căng thẳng và duy trì niềm tin cá nhân. Nhằm định hướng lý tưởng, tri thức và kỹ năng sống cho giới trẻ dựa trên nền tảng Phật học, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã chủ trương củng cố và phát triển các tổ chức thanh thiếu niên Phật tử, đặc biệt là Gia đình Phật tử (GĐPT). Tại Đà Nẵng, GĐPT là một hội đoàn Phật giáo xuất hiện từ giữa thế kỷ XX và phục hưng mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XXI.
Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tập trung mô tả lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức hoặc đánh giá tác động chung của GĐPT dưới lăng kính Tôn giáo học, Lịch sử học hoặc Chính trị học. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở chỗ: chưa có công trình nào tiếp cận GĐPT một cách chuyên sâu dưới góc độ Văn hóa học, chưa phân tích toàn diện sự chuyển dịch trong cơ cấu vận hành tổ chức, tính linh hoạt trong các sinh hoạt văn hóa giáo dục, các mối quan hệ tương tác nội bộ và mạng lưới liên kết xã hội của các thành viên trong bối cảnh đương đại.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua nghiên cứu trường hợp GĐPT tại thành phố Đà Nẵng, luận án tìm hiểu quá trình tham gia, thực hành văn hóa giáo dục của tôn giáo hiện nay và sự mở rộng mô hình hội đoàn Phật giáo nhắm đến giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên Phật tử. Luận án góp phần làm rõ phương thức liên kết xã hội, các hình thức giáo dục linh hoạt, phẩm chất đạo đức của người Phật tử trong xu thế thế tục hóa, qua đó cung cấp góc nhìn đa chiều về bức tranh văn hóa - xã hội đô thị đương đại.
-
Câu hỏi nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
- GĐPT tại Đà Nẵng được cơ cấu và vận hành như thế nào?
- GĐPT tại Đà Nẵng triển khai các thực hành văn hóa giáo dục ở khía cạnh tu học giáo lý Phật giáo, rèn luyện kỹ năng, phẩm chất cho Đoàn sinh và Huynh trưởng như thế nào? Về phía mình, các Đoàn sinh, Huynh trưởng, họ vận dụng Phật pháp vào cuộc sống thường nhật ra sao?
- Qua tổ chức GĐPT tại Đà Nẵng, chúng ta hiểu gì về phương thức liên kết xã hội, giá trị nổi bật của tổ chức Phật giáo này là gì, và vai trò của GĐPT trong đời sống văn hóa, xã hội đương đại?
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về GĐPT, chỉ rõ thành tựu và khoảng trống khoa học.
- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài (minh định các khái niệm: gia đình, GĐPT, văn hóa, văn hóa gia đình, văn hóa của GĐPT) và giới thiệu tổng quan địa bàn nghiên cứu.
- Nhận diện GĐPT tại Đà Nẵng trên các chiều cạnh: cơ cấu, đặc điểm thành phần tham gia, tôn chỉ, mục đích, châm ngôn và các mối quan hệ trong GĐPT.
- Phân tích các thực hành văn hóa giáo dục của GĐPT (giáo dục Phật pháp, kỹ năng, nhân cách đạo đức, tác phong) và mô tả trải nghiệm vận dụng Phật pháp của các thành viên.
- Bàn luận về vai trò của GĐPT trong việc củng cố liên kết xã hội, các giá trị giáo dục nổi bật và những vấn đề đặt ra đối với tổ chức này trong đời sống đương đại.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa của Gia đình Phật tử, bao gồm hai thành tố chính là văn hóa tổ chức (cơ cấu, đặc điểm, các mối quan hệ bên trong) và thực hành văn hóa giáo dục (tu học Phật pháp, rèn luyện kỹ năng, rèn luyện nhân cách đạo đức).
- Phạm vi nội dung: Nhận diện sự hình thành, cơ cấu, đặc điểm, thực hành văn hóa giáo dục của GĐPT tại Đà Nẵng; tập trung vào sự tham gia và trải nghiệm của các thành viên.
- Phạm vi không gian: Thành phố Đà Nẵng (tính đến năm 2023 có 57 đơn vị GĐPT trực thuộc 6 quận và 1 huyện). Nghiên cứu sinh tập trung khảo sát thực địa tại 4 địa bàn trọng điểm: quận Hải Châu (nơi có 9 GĐPT), quận Thanh Khê (12 GĐPT), quận Liên Chiểu (7 GĐPT) và huyện Hòa Vang (9 GĐPT).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát trong giai đoạn 11 năm (từ năm 2012 đến năm 2023). Mốc năm 2012 gắn liền với Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (thành lập Phân ban Thanh thiếu niên Phật tử thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương) và Thông tư số 170/TT/BHDPT ngày 17/10/2013 về việc thành lập Phân ban Thanh thiếu nhi Phật tử cấp huyện cùng Câu lạc bộ Thanh thiếu nhi Phật tử cơ sở.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm nội dung chính:
-
Các nghiên cứu về tổ chức Phật giáo Việt Nam:
- Về tổ chức Phật giáo truyền thống và Tăng đoàn: Thích Minh Châu (1988), Đoàn Trung Còn (1995), Phạm Kim Khánh dịch (1998), Lê Mạnh Thát (1999), Thích Chơn Thiện (2000), Thích Ân Thuận (2011) làm rõ hệ thống Tăng đoàn, cơ cấu tổ chức và cách thức sinh hoạt tu tập từ thời Đức Phật.
- Về tổ chức Phật giáo trong phong trào chấn hưng và lịch sử hiện đại: Thích Trí Quang (1952) trong Tăng già Việt Nam đã hệ thống hóa các tổ chức Tăng già và hội cư sĩ ba miền; Hòa thượng Thích Trí Hải (2004) ghi lại tiến trình vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam; Lê Tâm Đắc (2012) nghiên cứu phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc (1924-1954), chỉ ra sự xuất hiện của các hội đoàn Phật giáo chịu ảnh hưởng tư tưởng phương Tây; Lê Tâm Đắc và Nguyễn Đức Sự (2011) so sánh các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo (Thanh niên Phật tử, Sinh viên Phật tử, Học sinh Phật tử và GĐPT).
- Về thực hành của cộng đồng tín đồ: Đào Thế Đức (2008) nghiên cứu về hội vãi hành hương Yên Tử và sự khẳng định thẩm quyền tôn giáo của phụ nữ; Nguyễn Thị Thanh Loan (2020) khảo sát thực hành hành hương tại chùa Hương và khả năng kết nối mạng lưới xã hội qua niềm tin tâm linh.
-
Các nghiên cứu về Gia đình Phật tử trên thế giới:
- Katz (2019) nghiên cứu về lý tưởng "gia đình được Phật hóa" qua tác phẩm của cư sĩ Chen Hailiang (1910-1983) tại Trung Quốc, phân tích sự dung hòa giữa tu tập cá nhân và đời sống gia đình đô thị hiện đại.
- Waraporn Kongsuwan (2010), Waraporn Kongsuwan, Orapan Chaipetch và Yaowarat Matchim (2012) sử dụng phương pháp hiện tượng học và nghiên cứu trường hợp tại Thái Lan để khám phá ảnh hưởng của niềm tin Phật giáo trong việc chăm sóc bệnh nhân nặng và quan niệm về "cái chết êm đềm" trong phòng điều trị tích cực (ICU).
-
Các nghiên cứu về Gia đình Phật tử tại Việt Nam:
- Về lịch sử và phong trào chấn hưng: Trần Thiều (2006), Dương Thanh Mừng (2015, 2017, 2019) khẳng định sự ra đời của GĐPT gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo tại Huế và miền Trung từ những năm 1930-1940 (tiền thân là Đoàn Phật học Đức dục, Gia đình Phật hóa phổ, Ban Đồng ấu).
- Về vai trò của người sáng lập: Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2019) về Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám (1897-1969), tiêu biểu là bài viết của Nguyễn Thị Minh Nguyệt, khẳng định đóng góp của ông trong việc xây dựng quy chế và đào tạo thế hệ thanh niên Phật tử.
- Về bản chất khái niệm và tác động xã hội: Thích Minh Châu (1952) khẳng định GĐPT là tổ chức gia đình thanh thiếu niên dựa trên giáo lý Phật giáo nhằm xây dựng đời sống chân chính; Lê Tâm Đắc và Nguyễn Đức Sự (2011) chỉ ra GĐPT không dựa trên quan hệ hôn nhân hay huyết thống thông thường; Nguyễn Thị Minh Ngọc (2009) dẫn số liệu điều tra năm 2003 của Ban Tôn giáo Chính phủ cho thấy 97,47% người được hỏi quan tâm đến GĐPT và 85,51% đánh giá sinh hoạt GĐPT có tác động tốt đến thanh thiếu niên; Lê Văn Đính (2002) và Ngô Văn Trân (2011) phân tích công tác tập hợp, đoàn kết thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tại Thừa Thiên Huế.
-
Các nghiên cứu về Phật giáo và Gia đình Phật tử tại Đà Nẵng:
- Về lịch sử Phật giáo xứ Quảng: Henri Cosserat (1920), Albert Sallet (1924), Thích Chơn Phát (1970), Thích Hơn Sơn (1972), Lê Xuân Thông (2014, 2016, 2018) nghiên cứu văn bia, tự viện và danh tăng Ngũ Hành Sơn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.
- Về tác động văn hóa - xã hội: Các công trình của Trần Văn Giàu (1993), Nguyễn Tài Thư (1997), Nguyễn Đăng Duy (1999), Tạ Chí Hồng (2003), Đặng Thị Lan (2006), Đào Tấn Thành (2020) nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đạo đức, lối sống của người Việt.
- Về GĐPT Đà Nẵng: Báo cáo đề tài khoa học cấp thành phố của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh TP. Đà Nẵng (2002/2005) về giải pháp tập hợp thanh thiếu niên Phật giáo; Kỷ yếu 60 năm Gia đình Phật tử Đà Nẵng hình thành và phát triển (1950 - 2010) ghi nhận quá trình ra đời của 4 Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên vào năm 1950.
- Khoảng trống luận án giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây chưa xem xét GĐPT như một mô hình thực hành văn hóa giáo dục hoàn chỉnh trong ngành Văn hóa học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích cơ cấu văn hóa tổ chức, các phương thức giáo dục tích hợp (giáo lý, kỹ năng, đạo đức), các mối quan hệ tương tác nội bộ và mạng lưới liên kết xã hội của GĐPT tại Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa và chuyển đổi số hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan, xác lập khung lý thuyết Nhân học diễn giải, các khái niệm công cụ và phác thảo bức tranh tổng thể về địa bàn nghiên cứu thành phố Đà Nẵng (vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, các chương trình "Thành phố 5 không", "Thành phố 3 có").
Về mặt tôn giáo, Phật giáo du nhập vào Đà Nẵng từ thế kỷ XIV (sự xuất hiện của ngài Minh Phước Quảng tại động Hoa Nghiêm và sư Từ Tâm lập chùa Thái Bình). Phật giáo Đà Nẵng phát triển với hệ phái Bắc tông chiếm ưu thế áp đảo (>90%). Lịch sử GĐPT Đà Nẵng bắt đầu từ năm 1950 với sự ra đời của 4 Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên tại các chùa: Pháp Lâm (đơn vị Thiện Ái), Long Thơ (Long Hoa), Hải Lạc (Hải Hòa) và Tân Hòa (Tân Định). Đến năm 1951, danh xưng Gia đình Phật tử chính thức được áp dụng. Năm 1955, khóa huấn luyện Đội Chúng Trưởng đầu tiên được tổ chức do Huynh trưởng Tâm Huệ Cao Chánh Hựu phụ trách. Tổ chức phát triển qua các mốc: năm 1957 có 12 Gia đình với 1.000 Đoàn sinh; năm 1963-1964 tăng lên 25 Gia đình với 2.500 Đoàn sinh.
Bảng 1.1: Số lượng chùa, tịnh thất, tịnh xá, Niệm Phật đường trên địa bàn TP. Đà Nẵng (1997 - 2017)
| Cơ sở thờ tự |
1997 - 2002 |
2002 - 2007 |
2007 - 2012 |
2012 - 2017 |
| Chùa Bắc Tông |
99 |
101 |
108 |
110 |
| Chùa Nam Tông |
1 |
1 |
1 |
1 |
| Tịnh xá Khất sĩ |
2 |
2 |
2 |
3 |
| Tịnh thất |
7 |
4 |
6 |
2 |
| Niệm Phật đường |
2 |
2 |
- |
1 |
| Phật đài |
1 |
1 |
- |
- |
| Tổng cộng |
112 |
111 |
117 |
117 |
(Ghi chú: "-" là không được nhắc đến trong Báo cáo Tổng kết. Nguồn: Báo cáo tổng kết Phật sự qua 04 nhiệm kỳ)
Bảng 1.2: Số lượng Tăng, Ni theo các hệ phái trên địa bàn TP. Đà Nẵng (1997 - 2017)
| Hệ phái |
1997 - 2002 |
2002 - 2007 |
2007 - 2012 |
2012 - 2017 |
| Tăng, Ni Bắc tông |
516 |
582 |
647 |
702 |
| Tăng, Ni Khất sĩ |
22 |
23 |
23 |
23 |
| Chư Tăng Nam tông |
6 |
6 |
6 |
6 |
| Tổng cộng |
544 |
611 |
676 |
731 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết Phật sự qua 04 nhiệm kỳ)
Bảng 1.3: Số lượng đơn vị đạo tràng và các đạo hữu Phật tử trên địa bàn TP. Đà Nẵng (2007 - 2017)
| Phân loại |
2007 - 2012 |
2012 - 2017 |
| Số lượng đơn vị đạo tràng |
81 |
125 |
| Số lượng đạo hữu Phật tử |
7.595 |
14.620 |
| - Đạo tràng tu Bát Quan Trai |
- |
6.715 |
| - Đạo tràng Niệm Phật |
- |
2.520 |
| - Đạo tràng Pháp Hoa |
- |
3.135 |
| - Đạo tràng tu một ngày An Lạc |
- |
2.050 |
| - Đạo tràng tu tập Thiền Định |
- |
70 |
| - Lớp giáo lý |
- |
130 |
(Ghi chú: "-" là không được nhắc đến trong Báo cáo Tổng kết. Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác Phật sự qua 04 nhiệm kỳ)
Chương 2: Nhận diện gia đình Phật tử tại Đà Nẵng
Chương 2 mô tả chi tiết cơ cấu tổ chức, quy mô, các đặc điểm văn hóa và mối quan hệ nội bộ của GĐPT tại Đà Nẵng:
- Cơ cấu và quy mô: Hệ thống quản lý được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương, cấp tỉnh/thành phố đến Ban Huynh trưởng cơ sở. Luận án phân định hai dạng thức quy mô: GĐPT truyền thống (thành lập từ thế kỷ XX, có số lượng thành viên đông đảo, bề dày sinh hoạt) và GĐPT hiện đại (thành lập trong thế kỷ XXI theo Thông tư 170, quy mô nhỏ gọn, linh hoạt).
- Đặc điểm tổ chức:
- Kết nối dựa trên niềm tin Phật giáo nhưng có sự đa dạng hóa thành phần và nhu cầu gia nhập (thu nhận cả những thanh thiếu niên chưa từng quy y Tam Bảo, gia đình chưa có truyền thống đi chùa).
- Thống nhất tôn chỉ, mục đích và châm ngôn: Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội.
- Tính linh hoạt trong điều hành của đội ngũ Huynh trưởng trước những biến động về thời gian học tập và làm việc của giới trẻ.
- Các mối quan hệ trong GĐPT:
- Mối quan hệ chỉ đạo hành chính và định hướng Phật sự từ GHPGVN TP. Đà Nẵng và Ban Hướng dẫn Phật tử.
- Quan hệ tương tác giữa GĐPT với Thầy trụ trì và chư Tăng Ni tại chùa bảo trợ (sự ủng hộ, tạo điều kiện cơ sở vật chất của trụ trì quyết định lớn đến sự duy trì của Gia đình).
- Cơ chế điều hành nội bộ của Ban Huynh trưởng, tính thứ bậc và sự gương mẫu.
- "Tình Lam" trong GĐPT: Mối dây liên kết tình cảm đặc thù, sự gắn bó thân tình giữa các thế hệ như người trong một gia đình thế tục.
Chương 3: Thực hành văn hóa giáo dục của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng
Chương 3 đi sâu vào các biểu hiện cụ thể của thực hành văn hóa giáo dục thông qua ba mảng nội dung:
- Tu học Phật pháp: Chương trình giáo lý được phân cấp theo các bậc học phù hợp với lứa tuổi (ngành Oanh Vũ từ 7-12 tuổi, ngành Thiếu từ 12-18 tuổi, ngành Thanh từ 18-25 tuổi và các bậc học Huynh trưởng: Kiên, Trì, Định, Lực). Giáo lý không giảng dạy trừu tượng mà được chuyển hóa linh hoạt qua văn nghệ, âm nhạc, kịch nghệ Phật giáo và các trò chơi vận động.
- Rèn luyện kỹ năng:
- Kỹ năng vận động: Rèn luyện thể lực, phản xạ qua trò chơi lớn, sinh hoạt dã ngoại.
- Kỹ năng sinh tồn: Huấn luyện kỹ thuật cắm trại, thắt nút dây, dựng lều, sơ cấp cứu, định hướng phương hướng, truyền tin (morse, semaphore) qua các kỳ hội trại.
- Kỹ năng quản lý: Kỹ năng điều hành nhóm (Đội, Chúng, Đàn), lập kế hoạch sinh hoạt, điều phối nhân sự dành cho Huynh trưởng và Đội Chúng Trưởng.
- Rèn luyện nhân cách đạo đức:
- Giáo dục lý tưởng phụng sự xã hội, tinh thần từ bi, vị tha, hiếu thảo với cha mẹ, tôn sư trọng đạo.
- Rèn luyện tác phong kỷ luật thông qua đồng phục Lam, nghi thức chào hoa sen, tác phong đi đứng, xưng hô lễ phép và nếp sống lục hòa.
- Mô tả trải nghiệm của Đoàn sinh và Huynh trưởng trong việc áp dụng giáo lý nhân quả, sự nhẫn nhịn và lòng yêu thương vào giải quyết xung đột trong đời sống gia đình và học đường.
Chương 4: Văn hóa của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng: Liên kết xã hội, các giá trị và những vấn đề đặt ra
Chương 4 đúc kết các chức năng văn hóa - xã hội và thảo luận những thách thức đương đại:
- Liên kết xã hội: GĐPT đóng vai trò là môi trường bù đắp tình cảm, chia sẻ đời sống tinh thần cho thanh thiếu niên đô thị; củng cố mối quan hệ gắn kết giữa cá nhân với gia đình thế tục và cộng đồng xã hội thông qua các hoạt động từ thiện, thiện nguyện, bảo vệ môi trường.
- Hệ giá trị Đức – Trí – Thể: Mô hình giáo dục của GĐPT hướng tới sự phát triển toàn diện, kết hợp rèn luyện nhân cách đạo đức (Đức), khai mở trí tuệ qua giáo lý và kỹ năng (Trí), cùng rèn luyện thể chất dẻo dai thông qua các hoạt động thanh niên (Thể).
- Những vấn đề đặt ra trong đời sống đương đại:
- Thể hiện tính nhập thế của Phật giáo trong xã hội hiện đại.
- Những yếu tố tác động: Áp lực học tập văn hóa ngoài nhà trường, sự cạnh tranh của các loại hình giải trí hiện đại, tình trạng thiếu hụt đội ngũ Huynh trưởng kế cận do áp lực mưu sinh.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và mạng xã hội: Sự chuyển đổi phương thức kết nối qua Zoom, Google Meet, fanpage Facebook trong và sau đại dịch Covid-19 nhằm duy trì sinh hoạt và thu hút Đoàn sinh.
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn đơn vị Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên tại Đà Nẵng được thành lập vào năm nào và đặt tại những ngôi chùa nào?
Bốn đơn vị Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên tại Đà Nẵng ra đời vào khoảng năm 1950 tại các chùa: chùa Pháp Lâm (đơn vị Thiện Ái), chùa Long Thơ (đơn vị Long Hoa), chùa Hải Lạc (đơn vị Hải Hòa) và chùa Tân Hòa (đơn vị Tân Định). Đến năm 1951, danh xưng Gia đình Phật hóa phổ chính thức đổi thành Gia đình Phật tử.
2. Luận án sử dụng hướng tiếp cận lý thuyết nào làm nền tảng phân tích chính?
Luận án sử dụng hướng tiếp cận Nhân học - nghiên cứu văn hóa, trọng tâm là lý thuyết Nhân học diễn giải (Interpretive Anthropology) của Clifford Geertz với phương pháp "mô tả sâu" (Thick Description) và quan điểm "Tôn giáo như một hệ thống văn hóa", kết hợp với quan điểm người trong cuộc (Emic perspective) để diễn giải ý nghĩa của các thực hành văn hóa.
3. Cơ cấu số lượng cơ sở thờ tự Phật giáo tại Đà Nẵng có sự phân bổ như thế nào theo các hệ phái trong giai đoạn 1997 - 2017?
Theo Báo cáo tổng kết Phật sự, từ năm 1997 đến 2017, các cơ sở thờ tự Phật giáo tại Đà Nẵng tăng từ 112 lên 117 cơ sở. Trong đó, chùa Bắc tông chiếm đa số tuyệt đối với 110 cơ sở (chiếm hơn 90%), chùa Nam tông duy trì 01 cơ sở (chùa Tam Bảo), Tịnh xá Khất sĩ tăng từ 02 lên 03 cơ sở, Tịnh thất giảm từ 07 xuống còn 02 cơ sở, và Niệm Phật đường có 01 cơ sở (Niệm Phật đường Liên Trì).
4. Nghiên cứu sinh đã thực hiện phỏng vấn sâu với bao nhiêu đối tượng và gồm những thành phần nào?
Nghiên cứu sinh đã tiến hành phỏng vấn sâu với khoảng 50 người, gồm: 17 cán bộ quản lý điều hành (03 Gia trưởng, 12 Huynh trưởng, 02 Liên đoàn trưởng), 08 Đoàn sinh (12-22 tuổi), 06 Phụ huynh Đoàn sinh, 04 Sư Tăng Ni trụ trì, 05 Người đi chùa, 06 Người từng tham gia GĐPT, cùng các cuộc phỏng vấn ngắn với 3-5 người dân sinh sống xung quanh mỗi ngôi chùa khảo sát.
5. Mục đích và châm ngôn cốt lõi của Gia đình Phật tử được xác định như thế nào trong văn bản?
Mục đích cốt lõi của GĐPT là đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội. Quá trình giáo dục được tiến hành thống nhất trên ba phương diện hợp nhất: trau dồi Phật pháp (Đức), rèn luyện kỹ năng và tri thức (Trí), rèn luyện thể chất và nếp sống kỷ luật (Thể).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Mai Sa là công trình nghiên cứu hệ thống về văn hóa của Gia đình Phật tử tại Đà Nẵng từ giác độ Văn hóa học và Nhân học diễn giải. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và nguồn tư liệu điền dã thực địa trong giai đoạn 2012 - 2023, luận án đã làm rõ cơ cấu tổ chức, các mối quan hệ nội bộ cùng các thực hành văn hóa giáo dục đạo đức, kỹ năng và giáo lý Phật pháp cho thanh thiếu niên. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của GĐPT như một thiết chế văn hóa giáo dục cộng đồng, củng cố các liên kết xã hội và đóng góp vào sự phát triển văn hóa - xã hội tại đô thị Đà Nẵng trong bối cảnh đương đại.