Chương 1 NGOẠI GIAO PHẬT GIÁO- HÌNH THỨC NGOẠI GIAO CHO THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 Cơ sở lý luận về ngoại giao Phật giáo 1.1 Khái niệm ngoại giao Phật giáo Tôn giáo được hình thành từ quá khứ sâu xa trong lịch sử phát triển của nhân loại. Chủ nghĩa duy vật lịch sử thể hiện quan điểm duy vật về lịch sử của tôn giáo.Ăngghen đã luận giải sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo xuất phát từ hiện thực khách quan và nguồn gốc quan trọng hơn cả chính là điều kiện kinh tế- xã hội [37]. Tôn giáo như là nơi con người tìm đến để được che chở về mặt tinh thần. Nhưng tôn giáo không hẳn là một hiện tượng tiêu cực mà nó như là “thuốc giảm đau” cho nhân loại trong cuộc sống đầy rẫy bất lực, bất công và bạo lực; và sự tồn tại của tôn giáo là điều tất yếu.
Tuy nhiên từ trong lịch sử và thực tại có thể thấy rằng trên thế giới tồn tại một số những tôn giáo lớn, mang tính phổ quát toàn cầu như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Hindu giáo…Những tôn giáo này dù xuất hiện ở bất kỳ một quốc gia nào đều lưu giữ những tính chất chung vốn có của nó. Chính đặc điểm này khiến cho tôn giáo giữ vai trò quan trọng trong việc thiết lập quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, có thể xây dựng quan hệ hợp tác thông qua tương đồng tôn giáo nhưng cũng có thể đối đầu để tranh giành vị thế trong tôn giáo đó. Mặt khác, giáo trình “Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại giao” định nghĩa như sau: “Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại điện có thẩm quyền làm công tác đối ngoại của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thế giới, góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung, bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình khác” [1]. Trong Đại từ điển Bách khoa toàn thư năm 1998 có viết: “Ngoại giao là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan 14 chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại quốc gia, cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài” [1].
Nhìn chung có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tựu trung ngoại giao đóng vai trò là công cụ để mỗi quốc gia thực thi chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia mình. Hoạt động ngoại giao từ đó diễn ra ở tất cả các lĩnh vực như ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quân sự; cho đến những hình thức ngoại giao mới xuất hiện gần đây như ngoại giao văn hóa, ngoại giao tôn giáo, ngoại giao năng lượng… [22, tr. Các tác giả nước ngoài đã sớm có những nhận định về ngoại giao Phật giáo. Trong tác phẩm “Buddhism in Currrent China- India Diplomacy” của tác giả David Scott nói về tiến trình cũng như cách thức mà Trung Quốc và Ấn Độ đưa Phật giáo vào trong chính sách ngoại giao của quốc gia mình.
Từ năm 2006, Trung Quốc đã nhận ra những vấn đề tồn tại cần phải sửa đổi trong sức mạnh cứng của mình, và Phật giáo chính là mục tiêu Trung Quốc hướng đến để tạo sức mạnh mềm với những thuận lợi khi tiến hành và là chất keo gắn kết khu vực để phục vụ cho “giấc mơ Trung Hoa”. Cũng trong năm này, Ấn Độ thành lập Ban Ngoại giao công chúng thuộc Bộ ngoại giao và sau đó khẳng định vai trò của Phật giáo trong việc tiếp cận Myanmar. Năm 2015, Chủ tịch ICCA- Lokesh Chandra đưa ra nhận định rõ ràng “khai thác Phật giáo như một cánh tay mấu chốt của nền ngoại giao văn hóa của chúng ta”. Cũng trong tác phẩm trên dưới góc nhìn của Trung Quốc hiện nay thì “ngoại giao Phật giáo” của họ còn có sớm hơn nữa.
Năm 1939, nhà tu Thái Hư tham dự cuộc họp của Ủy ban tuyên truyền quốc tế của Ủy ban trung ương Quốc dân đảng đã có bài phát biểu: “Ngoại giao Phật giáo và quốc gia” nhắc lại ý nghĩa của ngoại giao Phật giáo trong con đường giành độc lập và phát triển đất nước. Trong 30 năm qua, Phật giáo Trung Quốc góp phần rất lớn vào sự thúc đẩy phục hồi kinh tế, văn hóa. Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI cũng chính là con đường truyền bá văn hóa Phật giáo. Chính sách ngoại giao Phật giáo mở ra không gian ngoại giao quốc tế 15 cho chính phủ Trung Quốc, thiết lập quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước [26].
Tác giả Philip Seib trong tác phẩm “Religion and public diplomacy” đưa ra cách nhìn tổng quát hơn về những đóng góp không chỉ riêng ngoại giao Phật giáo mà là ngoại giao tôn giáo. Trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại, các nhà khoa học và chính trị đều hi vọng tôn giáo sẽ mất dần cho đến mất hẳn ảnh hưởng của nó đối với nhân loại; nhưng thực tế tôn giáo vẫn trỗi dậy và còn trở thành động cơ thúc đẩy hành động của con người nói chung và của những nhà chính trị cần đưa ra quyết sách nói riêng. Không ít các trường hợp của các quốc gia dân tộc, khi cần tiến hành ngoại giao nhân dân thì phải tìm đến tổ chức tôn giáo, các nhà truyền giáo và tín đồ để tìm sự kết nối và hợp tác. Có thể thấy những ví dụ trong lịch sử như chính sách ngoại giao nhân dân của Việt Nam, Trung Quốc với Vatican.
Trong mối quan hệ liên quan đến lĩnh vực tôn giáo này, Vatican đã thiết lập được bầu không khí tự do đối thoại và hòa bình hơn là xung đột và đàn áp nghiêm trọng về mặt tôn giáo. Ngược lại, Việt Nam và Trung Quốc khi thiết lập quan hệ với Vatican sẽ có thể lan tỏa được thông điệp quốc tế về vấn đề tự do tôn giáo, từ đó tạo niềm tin và động lực cho các nhà đầu tư đến với quốc gia mình. Mặt khác tác phẩm cũng cho thấy sự đa dạng trong ngoại giao tôn giáo của nhà nghiên cứu Juyan Zhang chuyên nghiên cứu về các sáng kiến của Trung Quốc trong lĩnh vực ngoại giao bao gồm ngoại giao Khổng Tử, ngoại giao Phật giáo, ngoại giao Thiên Chúa giáo.để thể hiện và phát huy sức mạnh mềm của dân tộc mình. Tuy nhiên trong chính sách ngoại giao tôn giáo của Trung Quốc thì vẫn tích cực thúc đẩy ngoại giao Đạo giáo và Phật giáo do hai tôn giáo này mang đậm văn hóa Trung Quốc gắn liền với lịch sử của quốc gia này, dễ gây tạo tiếng vang và sự kết nối sâu rộng hơn [30].
Bên cạnh đó mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị chưa hề rời bỏ nhau và tác động của tôn giáo trong chính trị thường hướng vào nhân dân. Tác giả Jeffrey Haynes trong “Religion Transnational Actors and Soft Power” đề cập đến một số tôn giáo có thể thành tác nhân ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại bằng cách thúc đẩy các nhà chính trị ra các quyết sách ưu tiên cho tôn giáo đó. Ngoại giao tôn giáo 16 sẽ có cơ hội thành công lớn hơn nếu các nhà chính trị chủ đích chia sẻ các giá trị, chuẩn tắc và niềm tin của các tác nhân tôn giáo; và sẽ càng thành công hơn nữa khi chính sách đối ngoại đó cần thiết phải thông qua tôn giáo để thực hiện [27]. Bên cạnh đó tôn giáo cũng gắn liền với chủ nghĩa dân tộc.
Tuy tôn giáo không nhất thiết phải chiếm một vị trí trung tâm trong chủ nghĩa dân tộc nhưng nó có thể trở thành một yếu tố hỗ trợ giúp tập hợp cộng đồng trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia cùng theo đuổi chủ nghĩa dân tộc tôn giáo đó. Tại Việt Nam, nhìn nhận về “ngoại giao Phật giáo” đang được các quốc gia tiêu biểu như Ấn Độ tiến hành, Hòa thượng Thích Thiện Tâm trong bài phỏng vấn nhận định: “Chính sách ngoại giao Phật giáo của chính phủ Ấn Độ đương nhiên là sự tiếp nối tất yếu, đương nhiên của ngoại giao nhân dân Phật giáo giữa nhân dân các nước Phật giáo với nhân dân và đất nước Ấn Độ [58]. Từ nhận định này có thể thấy rằng Phật giáo Việt Nam cũng đang có xu hướng mở rộng mối quan hệ với Phật giáo các nước bằng con đường ngoại giao nhân dân. Trong giới học thuật, PGS.
Trần Nam Tiến cũng đã có những nghiên cứu và phân tích những điểm sáng tạo, những ưu thế đạt được sức mạnh mềm và kết quả còn đang bỏ ngỏ về việc Ấn Độ tiên phong tiến hành “ngoại giao Phật giáo trong chiến lược “Hành động phía Đông” của chính phủ này [16, tr. Theo các nhà ngoại giao Ấn Độ thì ngoại giao Phật giáo là sử dụng Phật giáo như một nguồn “sức mạnh mềm” để tạo sự ảnh hưởng đối với các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á [16, tr. Cũng đồng quan điểm trên, TS. Lê Thị Tình trong Bài viết “Ngoại giao Phật giáo- công cụ phát huy sức mạnh mềm của Ấn Độ trong điều kiện mới” đánh giá ngoại giao Phật giáo mà Ấn Độ đang theo đuổi là con đường tin cậy, hợp tác, phát triển học thuật, trao đổi văn hóa, đồng thời gắn kết nhân dân các nước lại với nhau và thúc đẩy ngoại giao nhà nước phát triển [9, tr.
Từ những nhận định mới nhất về “ngoại giao Phật giáo” trong thời kỳ hội nhập để xem xét những nét cơ bản của ngoại giao Việt Nam nhất là ngoại giao nhân dân để đáp ứng việc thực hiện “ngoại giao Phật giáo” trong thời kỳ hiện đại này. 17 Việt Nam trong Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhận thức và quyết tâm: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia- dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” [5, tr.
Những phương châm đường lối đối ngoại đưa ra đều trùng khớp với những tư tưởng chủ đạo của ngoại giao tôn giáo, trong đó có ngoại giao Phật giáo vốn luôn theo đuổi tính phổ độ, bình đẳng, vị tha.