Chương 1 NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẬT GIÁO 1. Một số nguồn gốc của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Phật giáo 1. Truyền thống gia đình Hồ Chí Minh sinh ra tại một gia đình nhà nho nghèo thuộc Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An - một vùng đất hiếu học, sinh ra nhiều tài danh về nho - Phật - Đạo yêu nước, thương dân. Gia đình Bác cũng là một gia đình có truyền thống hiếu học, khổ học.
Cả hai bên nội, ngoại: ông nội - Nguyễn Sinh Nhậm, bà nội - Hà Thị Hy, ông ngoại - Hoàng Đường, bà ngoại - Nguyễn Thị Kép đều là các bậc tiền bối hiếu học, ham học. Tuy không có ai đỗ đạt cao nhưng cũng góp phần làm đông đảo thêm đội ngũ trí thức bình dân ở địa phương, duy trì truyền thống hiếu học, khổ học của quê hương. Cha Bác, ông Nguyễn Sinh Sắc là một người nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ khi còn nhỏ. Lớn lên, dù hoàn cảnh gia đình rất mực khó khăn nhưng ông vẫn theo đuổi sự nghiệp học hành.
Từ một ông đồ dạy học trong làng, ông đã khổ học, rèn luyện, vượt qua gian truân để trở thành một ông phó Bảng. Với tinh thần hiếu học, khổ học, các thế hệ đi trước đã ảnh hưởng đến các thế hệ về sau mà trực tiếp là cậu bé Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành. Từ nhỏ cậu đã bộc lộ tư chất thông minh, ham học, ham hiểu biết, tìm tòi những điều mới lạ. Những năm tháng theo cha nay đây, mai đó cậu đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới qua các trường lớp và sách vở.
Sau này cuộc sống dù gian truân nơi xứ người nhưng cậu vẫn miệt mài học tập, tích lũy tri thức để đạt được mục đích của mình. Chính sự khổ luyện, ham học hỏi thời trẻ đó ở Hồ Chí Minh là cơ sở để sau này Người tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa dân tộc trong đó có Phật giáo. 13 Từ đó hình thành trong tư tưởng của Người một hệ thống sâu sắc những tình cảm, nội dung về một tôn giáo mang đậm nét dân tộc - tôn giáo Phật giáo. Gia đình Hồ Chí Minh ngoài truyền thống hiếu học còn là hiện thân của lòng nhân ái, bao dung độ lượng “từ, bi, hỷ, xả”.
Có thể nói lòng nhân ái cao cả của ông bà ngoại là cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép đã làm thay đổi cuộc đời thân phụ của Bác. Thân phụ Bác từ nhỏ đã là trẻ mồ côi, có hoàn cảnh éo le, phải sống nhờ vào người anh cùng cha khác mẹ. Cảm thương trước một cậu bé nghèo khổ nhưng thông minh, ham học, cụ Hoàng Đường lúc bấy giờ là thầy đồ trong làng đã xin về nuôi và dạy cho học. Có thể nói, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc chính là sản phẩm của tấm lòng nhân ái ấy, nếu không có tấm lòng nhân ái cao cả đó, có lẽ chỉ có một anh nho Sắc hay một ông đồ Sắc.
Cũng từ lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, bà Hoàng Thị Loan khi lớn lên đã vượt qua lễ giáo phong kiến, môn đăng hộ đối, đem lòng cảm mến, yêu thương ông Nguyễn Sinh Sắc và kết thành tình nghĩa vợ chồng sâu nặng. Trưởng thành trong tình yêu thương, đùm bọc của mọi người, ông Nguyễn Sinh Sắc đã tô đậm thêm lòng nhân ái vốn có của mình. Ông là hiện thân của tình yêu thương nhân dân nghèo khổ. Khi vinh quy về làng, vì sợ tốn kém cho nhân dân, ông đã khước từ lễ đón rước linh đình.
Trước khi rời quê vào kinh đô làm quan, ngoài việc để lại cho cô con gái ít ruộng để sinh nhai, ông đã bán hết và chia cho dân nghèo. Sau này, cũng chính từ lòng nhân ái, thương quần chúng nghèo khổ, căm ghét chốn quan trường tham ô, lộng hành, ông đã từ quan về làm ông đồ dậy chữ trong làng và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Từ lòng nhân ái, bao dung cao cả của ông bà, cha mẹ đó đã tác động đến hai người anh và chị của Bác là ông Nguyễn Tất Đạt, bà Nguyễn Thị 14 Thanh. Lớn lên, họ đều thấu hiểu nỗi khổ cực của nhân dân và trở thành những người yêu nước, hoạt động cách mạng vì dân, vì nước.
Chính những nhân cách cao cả trong gia đình Hồ Chí Minh đã tác động đến Người ngay từ khi còn nhỏ, hình thành lên ở Người cái tâm từ bi, nhân ái, bao dung của đạo Phật. Người dành tình thương cho mọi tầng lớp nhân dân: từ thương người nghèo khổ đói ăn, mặc rách đến thương nhân dân, đồng bào đang rên riết dưới những tầng áp bức, bóc lột của thực dân. Đỉnh cao của lòng nhân ái đó đã biến tư tưởng thành hành động - Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nhân loại cùng khổ dù cho có phải hy sinh bản thân mình. Tất cả các tình cảm quý báu đó sau này đã giúp Hồ Chí Minh hiểu được những triết lý sâu sắc của đạo Phật, thấy được những giá trị đích thực của tôn giáo đã gắn bó nhiều năm với dân tộc.
Từ đó hình thành ở Người những tư tưởng, tình cảm sâu sắc về Phật giáo, ca ngợi vai trò to lớn, giá trị đạo đức, văn hóa của Phật giáo. Những người thân trong gia đình Bác không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành tâm từ bi, nhân ái của Hồ Chí Minh mà còn trực tiếp tác động đến việc hình thành tư tưởng của Người về Phật giáo. Trước hết, bà ngoại, mẹ và chị gái cùng với những hoạt động thực tiễn gắn bó với đạo Phật của họ đã ảnh hưởng đến Bác. Ba người phụ nữ ít nhiều mang trong mình tâm linh của người mộ đạo.
Họ am hiểu nhiều thơ ca, tục ngữ dân gian, thường xuyên tham gia các lễ hội đình chùa. Đặc biệt bà ngoại Nguyễn Thị Kép là “người rất mộ đạo Phật, thường xuyên đến thăm viếng, dâng hương hoa ở các chùa chiền”[65, 14]. Cụ lên chùa một phần có thể do tâm lý người già, song ở cụ cũng có niềm tin nơi cửa Phật, mong muốn sự che chở, trợ giúp cho cuộc sống của gia đình, dân làng cũng như cả nước thoát khỏi đói khổ, xiềng xích thực dân. Vì thế, mẹ và chị gái của Bác cũng chịu 15 ảnh hưởng từ bà ngoại.
Do vậy, ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh thường theo họ lên chùa dâng hương làm lễ cầu Phật. Tất cả các ảnh hưởng thời thơ ấu đó đã tác động nhiều đến Người. Sau này, Người đã dành nhiều tình cảm sâu nặng cho phụ nữ, viết nhiều trang viết thể hiện nỗi cảm thông, thấu hiểu với nỗi khổ của nhiều người phụ nữ. Tuy nhiên, ảnh hưởng sâu sắc nhất đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo chính là thân phụ của Người - cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là người nắm vững tam giáo Nho, Phật, Đạo, gắn bó với đạo Phật, tinh thông Phật học. Sử sách đã ghi chép lại nhiều hoạt động của cụ phó bảng liên quan đến Phật giáo: Một thời gian dài khi chán trường chốn quan cụ thường xuyên lui tới các chùa đàm đạo với các nhà sư, nghiên cứu kinh Phật, kết hợp với bắt mạch, bốc thuốc, chữa bệnh cho nhân dân. Những vị sư mà cụ thường tiếp xúc, đàm đạo trong thời gian này là Chư tôn hòa thượng Bích Liên, Liên Tôn ở Bình Định; Huệ Đăng ở chùa Thiên Thai (Bà Rịa Vũng Tàu); Từ văn ở chùa Hội Khánh (Bình Dương)…Cụ Nguyễn Sinh Sắc vào chùa là để nghiên cứu Phật học. Cho nên cụ rất am hiểu và tinh thông Phật học.
Cụ đã từng được cấp chứng chỉ quy y do Hòa thượng Hồng Đại Hữu Phước, trụ trì chùa Sùng Phước (Nam Vang – Huế) cấp ngày 2 tháng 7 năm Nhâm Tuất tức ngày 24 tháng 8 năm 1922. Do am hiểu Phật học như vậy nên hầu hết các chùa mà cụ lưu đến đều có bút tích do cụ để lại: “Tiên tức Phật, Phật tức tâm, bát vạn trần lạo độ tịnh tâm Linh như hư, hư như giác, tam thiên thế giới tổng bao hàm” Dịch là: “Tiên là Phật, Phật ở trong tâm, tám vạn khổ đau đều do ở tâm tạo ra Linh như không có, không mà có, ba ngàn thế giới đều nằm trong đó”[25, 98]. 16 Nếu không xuất phát từ một một tình cảm sâu sắc và có tâm huyết với Phật giáo, không có một trình độ hiểu biết thâm sâu triết lý Phật học thì không thể viết lên những câu mang đậm triết lý Phật giáo như vậy và cũng không thể nhiệt tình tham gia vào các công việc của một tín đồ mộ đạo: “Cụ Nguyễn Sinh Sắc đã từng là cố vấn cho hòa thượng Khánh Hòa - một người chủ xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, gây dựng tổ chức Phật giáo. Trong những năm đầu thế kỷ XX, cụ Sắc đã gợi ý sáng tỏ cho cụ Khánh Hòa là phải tổ chức, có tổ chức mới có cơ sở để làm việc, để tạo thế mạnh và hoằng đạo, phải tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo.
Bấy lâu cụ Khánh Hòa có ý, giờ đây được cụ Sắc làm sáng tỏ hẳn lên và cụ Sắc trở thành một lý thuyết gia của cụ Khánh Hòa”[65, 12-13]. Rõ ràng, có thể khẳng định rằng quê hương, dòng tộc, những người thân trong gia đình Hồ Chí Minh là cái nôi nuôi mầm gien Phật giáo trong Bác. Từ ông bà đến cha mẹ, anh chị đều có mối quan hệ mật thiết với đạo Phật thì không thể nói rằng Hồ Chí Minh không có mối quan hệ với đạo Phật. Ngược lại, chính Hồ Chí Minh đã thực hành lối sống như là hiện thân của Đức Phật trong đời thường.
Những câu chữ Người dùng không phải là ngôn ngữ Phật giáo nhưng nội dung yêu thương con người thì hiện hữu triết lý của đạo Phật. Truyền thống, văn hóa dân tộc Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử đoàn kết dựng nước và giữ nước. Lịch sử đó đã tạo dựng một nền tảng văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những giá trị truyền thống, những tinh hoa tốt đẹp và cao quý. Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Đó là truyền thống cần cù lao động, đoàn kết dân tộc. Đây chính là những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc ra đi tìm đường cứu nước. Nó là cơ sở xuất phát, cũng là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động 17 cách mạng của Người. Đây cũng chính là cơ sở, nguồn gốc chính yếu hình thành tư tưởng về Phật giáo ở Người về sau.