Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1. Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng * Tín ngưỡng Tín ngưỡng có thể hiểu là: tín là niềm tin, ngưỡng là sự ngưỡng vọng. Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người.
Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành. Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được. Theo giáo trình Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc của khoa Quản lý nhà nước về xã hội thuộc Học viện Hành chính quốc gia thì: tín ngưỡng(tiếng Pháp- Croyance; tiếng Anh- Belief) đồng nghĩa với niềm tin, sự tin tưởng, nhưng tín ngưỡng không phải là niềm tin nói chung, mà nó là niềm tin đặc biệt. Tín ngưỡng là gốc của tôn giáo [17].
Theo Luật tín ngưỡng Tôn giáo, Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng [58]. Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo có nhiều chỗ gần gũi với nhau vì nó cùng có nguồn gốc từ lòng tin tuyệt đối vào một đấng cao siêu huyền bí nào đó. Hay nói cách khác: mọi tín ngưỡng, tôn giáo đều có một cái chung là “thế giới bên kia” khác với thế giới hiện thực mà con người đang sống [17]. Song tín ngưỡng, tôn giáo cũng có nhiều điểm khác nhau: 8 Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là: tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo.
Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. * Hoạt động tín ngưỡng Theo Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo thì hoạt động tín ngưỡng “là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội” [8, tr.
Tôn giáo và hoạt động tôn giáo * Tôn giáo Tôn giáo: (Tiếng Latinh- Religio) đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối tượng được sùng bái. Tôn giáo là sự sùng bái và thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh [17]. Bản chất của tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin được khái quát trong một số luận điểm sau đây: Thứ nhất, tôn giáo là sự tự ý thức, tự cảm giác của con người về thế giới xung quanh mình và về chính bản thân mình. Con người đã nghiêng mình trước bản chất của chính mình và nhận thức nó như một bản chất siêu việt, trong Lời nói đầu của tác phẩm “Phê phán Triết học Pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã khái quát bản chất của tôn giáo bằng luận điểm “tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa” [19, tr.
9 Thứ hai, trong tôn giáo, con người đã nhận thức thế giới kinh nghiệm của chính mình là cái chỉ có trong tư tưởng như một cái gì đó linh thiêng. Theo Các Mác và Ph. Ănghen “sự tự ý thức đó là sự tự ý thức hoang tưởng, sai lầm, hư ảo” [20, tr. Thứ ba, tôn giáo là sự phản ánh, sự nhận thức của con người về thế giới, nhưng là một thế giới quan như Ph.Ănghen nhận định: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [21,tr.
Quan điểm trên của Ph. Ănghen về bản chất của tôn giáo muốn giải đáp ba câu hỏi: Tôn giáo là gì? Tôn giáo phản ánh cái gì và tôn giáo phản ánh như thế nào? Thứ nhất, tôn giáo là gì? Tôn giáo là cái phản ánh, nghĩa là một hình thái ý thức xã hội, ra đời, tồn tại, biến đổi phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Thứ hai, tôn giáo phản ánh cái gì? Giống như các hình thái ý thức xã hội khác, tôn giáo phản ánh tồn tại xã hội, chủ yếu tập trung vào phản ánh sức mạnh tự nhiên và sức mạnh xã hội mà con người bất lực trước đó. Thứ ba, tôn giáo phản ánh như thế nào? Tôn giáo phản ánh hiện thực khách quan một cách linh thiêng trừu tượng.
Thứ tư,Chủ nghĩa Mác -Lênin cho rằng chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo con người, đồng thời làm rõ các nguồn gốc của sự xuất hiện tôn giáo, đó là: - Nguồn gốc xã hội: + Sự bất lực của con người trong sự đấu tranh với tự nhiên. + Tính tự phát trong sự phát triển xã hội và sự áp bức giai cấp trong chế độ xã hội có sự bóc lột. - Nguồn gốc nhận thức: 10 + Thế giới hiện thực luôn trong quá trình “sinh thành”, chứ không phải là đã “hoàn thành”, nên quá trình nhận thức của con người về thế giới ấy luôn là quá trình tiệm cận gần với chân lý. + Sự tách rời nội dung khách quan ra khỏi hình thức chủ quan trong quá trình nhận thức của con người… - Nguồn gốc tâm lý: Đó là các trạng thái tâm lý, tình cảm, cảm xúc, tiêu cực như: buồn, chán, cô đơn, bất hạnh, đau khổ…hoặc các trạng thái tâm lý tích cực như: hưng phấn, vui vẻ, ngưỡng mộ.
* Các căn cứ để xác định tôn giáo: - Ý thức tôn giáo: gồm hai trình độ là tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo thể hiện qua biểu tượng, thói quen, niềm tin hay giáo lý. - Nghi lễ tôn giáo: sự lễ bái, thờ cúng… - Tổ chức tôn giáo: là sự liên kết của những người có chung một tín ngưỡng, có chức năng thoả mãn nhu cầu tâm linh và một số nhu cầu khác của con người có tín ngưỡng [8, tr. Một tôn giáo bao giờ cũng biểu hiện về mặt hình thức gồm có 4 bộ phận: giáo lý, giáo luật, giáo lễ và cơ sở thờ tự. - Giáo lý là hệ thống các quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan.
- Giáo luật là hệ thống các quy định về kiêng cữ, cấm kỵ. - Giáo lễ là nghi thức lễ bái. - Cơ sở thờ tự là những cơ sở vật chất để thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, người ta thường đặc biệt chú ý tới hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tổ chức được hiểu là: tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung 11 một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có kết cấu là một tổ chức giáo hội.
Theo luật Tín ngưỡng Tôn giáo thì: Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức [58]. * Hoạt động tôn giáo Theo Điều 3, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo thì “hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, quản lý tổ chức của tôn giáo” [35, tr.38] + Việc truyền bá giáo lý, giáo luật (hay còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyền những lý lẽ về nguồn gốc, sự ra đời, luật lệ của các tổ chức tôn giáo. Thông qua những hoạt động truyền giáo, niềm tin đối với các tín đồ được củng cố và các giáo luật được thực hiện. Đối với những tín đồ mới tham gia hay với những người chưa phải tín đồ thì các hoạt động truyền giáo còn với mục đích giúp họ hiểu, tin, theo tôn giáo và gia tăng về số lượng các tín đồ.
+ Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ. Hoạt động quản lý, tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Trong các hoạt động trên việc phân biệt ranh giới giữa hoạt động truyền đạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, đã có không ít những trường hợp hành đạo có truyền đạo. Theo luật Tín ngưỡng Tôn giáo, Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo [58].
Mê tín, dị đoan Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mê tín dị đoan là tệ nạn đồng bóng, bói toán, cầu trời, cầu đảo, rước sách quá linh đình, cúng bái xa xỉ, tốn kém của nhân dân. Người chỉ rõ nguyên nhân mê tín, dị đoan trước hết là những hủ tục do chế độ thực dân, phong kiến để lại. Ở miền núi đang còn nhiều phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại như: ma chay, cúng bái rất tốn kém, cưới vợ, gả chồng quá sớm; vệ sinh phòng bệnh còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xoá bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.
Hai là, mê tín dị đoan là do trình độ dân trí quá thấp, không phân biệt được đúng sai trong những luận điệu tuyên truyền nhảm nhí của một số kẻ đầu cơ trục lợi. Để loại bỏ mê tín, dị đoan phải nâng cao trình độ học vấn… Ba là, mê tín, dị đoan là tệ nạn do “một số người đồng bóng lạc hậu mê tín bị những kẻ xấu lợi dụng để xoay tiền” [8, tr. Để khắc phục tệ nạn mê tín dị đoan, theo Hồ Chí Minh phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục.