CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở NAM BỘ VÀ TỈNH ĐỒNG THÁP 1. Khái quát quá trình du nhập của Phật giáo vào Nam Bộ Phật giáo Việt Nam là một bộ phận của nền văn hóa dân tộc. Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm. Trong quá trình phát triển, niềm tin tôn giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt đã tạo tiền đề cho sự hình thành một nền văn hóa Phật giáo Việt Nam vào thời đại Lý – Trần mang đậm nét bản địa.
Nó là một trong những hành trang tinh thần được lưu dân người Việt mang vào trên bước đường khai hoang mở cõi ở Phương Nam. Những yếu tố tác động đến Phật giáo ở Nam Bộ 1.Chính sách và thái độ của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo Trong những thập niên đầu của thế kỷ XVII, từ sau khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, tình hình Phật giáo ở Đàng Ngoài và Đàng Trong không có gì khác biệt nhau. Đến khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn xảy ra (1627 – 1672), việc giao lưu giữa hai đàng ngày càng hạn chế; do đó các mặt phát triển xã hội ngày càng khác nhau. Tính đến thế kỷ XVII, đã có hơn một thế kỷ rưỡi binh đao khói lửa, loạn lạc…các giá trị Nho học trong niềm tin của giới trí thức bị lung lay.
Trong đau khổ cùng cực người ta bắt đầu quay trở lại với đạo phật “một đạo lấy đức từ bi làm gốc và kỹ thuật trị thế là thứ yếu” [6, tr. Nhiều trí thức, quan lại với những biến động của thời cuộc, trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, nhận thấy Nho học chưa hẳn là triết lý duy nhất của cuộc sống, nên tìm đến nghiên cứu Phật học với ước mong nhận ra chân lý của cuộc đời. Có một số nho sĩ đã từ bỏ triết lý của Nho giáo ẩn mình ở chốn Thiền môn. 11 Trong khi đó, ở các giai tầng tột cùng của xã hội đương thời, các chúa Nguyễn cũng như các chúa Trịnh, trước yêu cầu tranh thủ nhân tâm, lôi cuốn sự ủng hộ của giới Phật giáo để tìm chỗ dựa tinh thần cho quyền lực của mình, cũng bắt đầu hướng về đạo Phật, trọng dụng các thiền sư.
“Khác với các vua thời Lý – Trần, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn tìm đến với Phật giáo không phải với tư cách của những người học Phật uyên thâm và có ý chí tu học và cũng không phải là những nhà hành đạo, mà họ chỉ là những tín đồ vừa đi tìm chỗ dựa tinh thần và dùng đạo Phật như là một phương tiện để tạo dựng công đức cho dòng họ, chớ không biết vận dụng đạo Phật vào việc trị nước an dân” [6, tr. Đó chính là những nguyên nhân chính dẫn đến sự phục hưng của đạo Phật ở Việt Nam trong các thế kỷ XVII, XVIII. Năm 1400, nhà Trần mất ngôi, phái thiền Trúc Lâm – Yên Tử xem như thất truyền, nhiều thiền sư Trúc Lâm phải trốn tránh nơi núi rừng hẻo lánh hoặc chạy vào Nam ẩn cư. Song, thực chất đạo phật của nước ta lúc bấy giờ vẫn là bản chất của đạo Phật thời Lý – Trần, dù không có nhiều tăng tài, nhiều thiền viện, chùa chiền.
Đầu thế kỷ XVI, thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, do yêu cầu của xã hội nên Phật giáo ở nước ta từng bước được khôi phục. Đây cũng là thời điểm có nhiều thiền sư Trung Quốc (chủ yếu là phái Lâm Tế và Tào Động) sang Việt Nam, đã góp phần tích cực trong công cuộc phục hưng Phật giáo ở Việt Nam. Ở Đàng Ngoài, thiền sư Chân Nguyên (1646 – 1726) là người có công lớn trong việc phục hưng môn phái Trúc Lâm thông qua việc sưu tập, hiệu đính, khắc bản và cho lưu hành các tác phẩm quan trọng của các thiền tổ Trúc Lâm. Ở Đàng Trong, thiền sư Minh Châu – Hương Hải (1628 – 1715) có công phục hưng phái Trúc Lâm bằng con đường đào tạo nhiều tăng tài.
12 Khi vào Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng rất trọng đãi tăng giới, cho xây dựng nhiều chùa, vì trong thâm ý của ông, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ Nguyễn. “Chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho phái thiền Trúc Lâm phục hưng với nhiều thiền sư nổi tiếng như: Viên Khoan, Viên Cảnh, Hương Hải…”[6, tr. Phần lớn các chúa Nguyễn sau này đểu tỏ ra rất sùng đạo Phật. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị chúa rất mộ đạo Phật, có pháp hiệu là Thiền Túng đạo nhân, xưng là Hưng Long cư sĩ.
Năm 1695, chúa mời hòa thượng Thích Đại Sán (Thạch Liêm) thuộc phái Tào Động từ Trung Quốc sang Thuận Quảng hộ trì Phật giáo. Theo gợi ý của hòa thượng, “chúa cho trùng tu nhiều chùa chiền, đúc đại hồng chung, thu nạp hàng ngàn tăng sĩ, cho mua hơn ngàn quyển Kinh, Luật, Luận, nhiều lần mở đại giới đàn cho tăng sĩ thọ giới Tỳ kheo, Sa di; trong đó không ít là hoàng thân quốc thích và các đại thần trong triều, mở đại trai đàn và phát chẩn cho người nghèo kéo dài suốt cả tháng…”[6, tr.20] Trong thời gian này, ở Đàng Trong nhiều chùa chiền được xây dựng, đội ngũ tăng giới được nhiều ưu đãi. Tuy nhiên, tùy vào tình hình cụ thể từng lúc, cũng có Chúa có động thái quyết liệt đối với vài thiền sư, gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sinh hoạt Phật giáo. Dưới thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687), thiền sư Minh Châu – Hương Hải, một thiền sư nổi tiếng thuộc phái Trúc Lâm phục hưng ở Đàng Trong, vốn là một cử nhân Nho học, từng làm Tri huyện, từ bỏ chức tước tu ở núi Bút Tiêm La, trên cù lao Đại Lãnh, được chúa Hiền cho người đón về Phú Xuân và sau đó (khoảng năm 1667) lập Thiền Tịnh viện ở núi Qui cảnh để thiền sư hoằng hóa.
Uy tín và đạo hạnh của thiền sư có ảnh hưởng lớn đối với triều đình; có đến hàng ngàn người trong hoàng tộc và quan lại thọ giới. Trong số đó có quan Thị Nội giám là Gia Quận công, nguyên là quan Đàng Ngoài bị chúa Nguyễn bắt được khi 13 đánh chiếm bảy huyện của trấn Nghệ An vào những năm 1655 – 1660, được chúa Nguyễn tha tội và cho dạy học ở nội cung. Gia Quận công thường đến Thiền Tịnh viện, có quan hệ mật thiết với thiền sư Hương Hải. Có người không ưa, sàm tấu với chúa là hai người có âm mưu trốn ra Đàng Ngoài với chúa Trịnh.
Cả hai đều bị chúa Hiền bắt giam. Song, xét thấy không đủ chứng cứ để kết tội, nên thiền sư được thả ra, nhưng không được tiếp tục hoàng hóa ở Thiền Tịnh viện nữa, mà bị buộc phải vào Quảng Nam để hành đạo. Năm 1682, thiền sư Hương Hải âm thầm cúng với khoảng 50 đệ tử trốn ra Đàng Ngoài, làm cho chúa Hiền càng khẳng định rằng phái Trúc lâm có quan hệ với chúa Trịnh. Do đó, các thiền sư phái Trúc Lâm ở Đàng Trong hoặc phải trốn ra Đàng Ngoài, hoặc phải trốn vào vùng Đồng Nai, Cửu Long, hoặc gia nhập vào phái Lâm Tế do thiền sư Nguyên Thiều, một thiền sư người Trung Quốc đang hoằng hóa ở Đàng Trong và rất được chúa Nguyễn tin dùng.
Vào tháng 7 năm Mậu Ngọ (1789), nhân một nhà sư tên là Cao phạm tội, Nguyễn Ánh muốn giết ngay, nhưng có người can gián rằng, Cao là bậc chân tu, Nguyễn Ánh nói: “Chân tu thì có ích gì cho nước”. Rồi sai Lại bộ Thương thư Ngô Tùng Châu truyền rằng: “Phàm tăng đồ tuổi từ 50 trở lên mới miễn lao dịch, còn chưa đến 50 thì phải chịu lao dịch như dân, kẻ nào trốn tránh thì bắt tội”. Kèm theo đó Ngô Tùng Châu còn chỉ trích cái bậy của nhà sư. Có lẽ chính vì thế mà Trịnh Hoài Đức viết: “Ở Gia Định, có tục theo đạo Phật, cúng cơm chay 49 ngày mới thôi, đám ma thì sắm rượu thịt cỗ bàn tử tế đãi tân khách đến phúng điếu tống táng, và tin theo nhà địa lý, đình quan tài cách năm để tìm đất, nay có lịnh nghiêm cấm, tục ấy đổi bỏ cả rồi” Những chính sách đó ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sinh hoạt tôn giáo ở Đàng Trong [6, tr.
Sự du nhập của các thiền sư Trung Quốc ở Đàng Trong Năm 1630, ở Trung Quốc xảy ra cuộc nổi loạn của Lý Tự Thành và sau đó nhà Thanh diệt nhà Minh chiếm Trung Quốc, hòa trong dòng người di tản khỏi Trung Quốc đến Đại Việt có nhiều nhà sư. Trong đó có hòa thượng Chuyết Chuyết – Viên Văn (1590 – 1644) thuộc phái Lâm Tế đời thứ 31 cùng một số đệ tử đến hoằng hóa ở Đồng Nai, nơi được người Việt khai khẩn từ lâu. Trong số các đệ tử của hòa thượng Chuyết Chuyết có sư Minh Hành – Tại Tại (1595 – 1659) là nhà sư có tài đức. Năm 1633, hòa thượng Chuyết Chuyết đến Đông Đô (Thăng Long).
Năm 1658, dưới thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, thiền sư Bổn Quả - Khoáng Viên đến Đàng Trong, năm 1664, khai sơn Long Thiền tự ở Đồng Nai. Tiếp sau, năm 1677, thiền sư Nguyên Thiều – Thọ Tông, đệ tử của Bổn Quả đến phủ Qui Nhơn, lập chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định để hoằng dương Phật pháp, trở thành tổ sư của phái Lâm Tế ở Đàng Trong. Năm 1679, nhóm di thần nhà Minh do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch cầm đầu trốn sang Đại Việt được chúa Nguyễn thu nạp và cho cư ngụ ở Biên Hòa và Mỹ Tho, trong đó có nhiều nhà sư. Những ngôi chùa cổ nằm ở tả ngạn sông Tiền thuộc Cai Lậy, Mỹ Tho, Cao Lãnh và một số chùa sau này đều có quan hệ với các vị sư đến từ Trung Quốc này.
Đó là những cơ sở Phật giáo ban đầu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đến Thế kỷ XVIII, một nhóm người Quảng Đông (Trung Quốc) do Mạc Cửu dẫn đầu sang khai khẩn vùng Mang Khảm lập đất Hà Tiên, xây chùa Tam Bảo, một trung tâm Phật giáo ở vùng đất mới. Nền Phật giáo Nam tông ở Nam Bộ Trước khi lưu dân người Việt đến, ở Nam Bộ đã tồn tại lâu đời Phật giáo Nam tông ở khu vực có đông người Khmer cư trú, tập trung ở miền Tây. 15 Ở Đồng Tháp, trong quá trình lao động và sinh hoạt, người dân đã phát hiện nhiều tượng Phật cổ.
“Ngày 8/4/1937, phát hiện ở xóm Mỹ Lợi, xã Phong Mỹ một tượng Phật đứng bằng gỗ mù u cao 2m; năm 1943, gần chùa Cái Tàu Hạ (huyện Châu Thành) phát hiện một tượng Phật bằng gỗ sao cao 2,91m; ngày 15/2/1967, phát hiện ở rạch Bà Phàn thuộc xã Hòa An (thị xã Cao Lãnh) một tượng Phật ngồi bằng đồng đen cao 0,12m…” [6, tr.