mở đầu thời kỳ đổi mới về công tác tôn giáo. Luận văn nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ: Vai trò của Sáu pháp hòa kính trong Phật giáo đối với đạo đức gia đình Phật tử ở huyện Gia Lâm, Hà Nội nên chủ yếu chỉ đề cập đến những mặt tích cực của đạo đức Phật giáo, theo nghĩa hiểu vai trò là kết quả của chức năng xã hội đối với mọi tôn giáo mà Phật giáo đã thực hiện. Địa bàn nghién cứu: Địa giới hành chính huyện Gia Lâm, Hà Nội hiện nay 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lên", tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học như: nhu cầu tín ngưỡng, cấu trúc - chức năng tôn giáo và phương pháp của triết học như: thống nhất logic - lịch sử, so sánh, phân tích, tong hợp, khái quát hóa, xử lý tư liệu. Phương pháp Nhân học tôn giáo và Xã hội học tôn giáo: điền dã, phỏng vấn sâu, quan sat thực địa. Đóng góp của luận văn 6.
VỀ mặt lý luận: Luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng: đạo đức Phật giáo và đạo đức gia đình Phật tử; mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức gia đình và đạo đức xã hội. Đồng thời sự quyết định của cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, đó là sự xuống cấp của đạo đức gia đình chính do nền kinh tế thị trường hiện nay đã tác động vì tương ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội là một nền đạo đức đặc trưng.2 VỀ mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan đến đạo đức tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, cụ thé hơn nữa là phương pháp tu tập của Phật tử nhằm tu dưỡng bản thân và gia đình. Hoặc những chuyên đề liên quan đến đạo đức con người, đạo đức xã hội. Kết cau của luận văn Ngoài phần mở dau, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
KHÁI QUÁT CHUNG VE SÁU PHÁP HÒA KÍNH CUA PHẬT GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ O HUYỆN GIA LAM, HÀ NOI HIỆN NAY 1. Khái quát chung về Sáu pháp hòa kính của Phật giáo 1. Sự ra đời và nội dung cơ bản của Sau pháp hòa kính Phật giáo chế định nhiều giới luật để hướng dẫn người theo đạo tu tập. Nội dung chủ yếu của giới luật là những điều kiêng cấm nhằm chế ngự dục vọng từ bỏ những việc ác, khuyến khích việc thiện dé đạt đến sự giải thoát.
Giới luật cũng quy định riêng những điều dành cho từng đối tượng tu hành. Trong các phạm trù giới luật của Phật giáo có thé thấy phổ biến là các phạm trù ngũ giới và thập thiện. Trong đó Ngũ giới là năm điều cam: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói điều sai trái, không uống rượu. Thập thiện là Mười điều thiện cần, nên làm: + Ba điều thiện về thân: không sát sinh, không trộm cặp, không tà dâm + Bồn điều thiện về khâu: không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói điều ác, không nói điều thêu dệt; + Ba điều thiện về ý: không tham lam, không giận giữ, không tà kiến.
Trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng tập thể, để điều chỉnh hành vi của người đệ tử, Đức Phật day về Lục Hòa Kính Pháp tức Sáu phép hòa kính. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, “Lục hòa kính còn gọi là Lục ủy lao Pháp, lục kha hy Pháp, lục hòa, hành hòa kính, sự hòa kính, thi hòa kính. Sáu thứ hòa đồng, kính ái tức sáu việc mà những người cầu Bồ đề, tu phạm hạnh phải thương yêu, kính trọng lẫn nhau; cũng tức là sáu thứ hòa đồng, kính ái giữa Bồ tát và chúng sanh của Phật giáo Đại Thừa”. Đó là: Thân hòa đồng trụ, còn gọi là Thân từ hòa Kính; Khẩu hòa vô tranh, còn gọi là Khẩu từ hòa 10 Kính; Y hòa đồng trao, còn gọi là Y từ hòa Kính; Giới hòa đồng tu còn gọi là Đồng giới hòa Kính; Kiến hòa đồng giải còn gọi là Đồng kiến hòa Kính; Lợi hòa đồng quân, còn gọi là Đồng lợi hòa Kính.
Sáu pháp hòa kính trên là nền tang căn bản, nếp sống đẹp cho cộng đồng tu sĩ sống hòa hợp, hòa kính, nhu hòa và an lạc. Trong kinh sách Phật giáo, rất nhiều kinh sách viết đến Sáu pháp hòa kính. Kinh Bát Nê Hoàn, Đức Phật dạy: "Này các Ty-kheo, có sáu pháp tôn trọng nên khéo nhớ nghĩ, thực hành, thì chánh Pháp có thé được tru lâu dài”. Kinh Du Hành, Đức Phật dạy: "Này các Tỳ-kheo, lại có sáu pháp bất thối làm cho chánh Pháp tăng trưởng không bị hao tổn đó là sáu pháp hòa kính”.
Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: "Vì thường siêng tu tập sáu pháp hòa kính nên có thé làm cho dòng giống Tăng chăng dứt”. Tiểu kinh Rừng Sừng Bò, Đức Phật dạy: "Này các Tỳ-kheo, nếu thực hành sáu pháp hòa kính, thì dù ở Đông, Tây, Nam, Bắc, theo chốn nơi đi đến, hoặc dừng, hoặc đi, đều khiến cho các Ty-kheo đạt được an lạc, xa lìa các sự tranh chấp. Cho đến sau khi Ta nhập Niết-bàn, đều khiến cho các chúng Tỳ-kheo, dù ở nơi đâu, cũng thường được an lạc, như Ta hiện tại ở đời thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh chăng khác” [xem-kinh_kinh-bat-ne-hoan_cmmpdc_viet1. Kinh Trung bộ, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, sáu pháp hòa kính cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp nhất trí, nhìn nhau với cặp mắt ái kính.
Như vậy gọi là tang già thanh tịnh” [Đại tạng Kinh Việt Nam, 1992]. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm có đoạn: “Một thời, Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: - Các Thầy nên nhớ nghĩ pháp lục trọng, kính trọng, giữ mãi trong lòng đừng cho quên mat. Thế nao là sáu? 11 Ở đây Tỳ-kheo thân hành niệm từ, như ngắm hình trong gương, đáng kính, đáng quý, chớ cho quên mắt.
Lại nữa, khâu hành niệm từ, ý hành niệm từ, đáng kính, đáng quý, chớ cho quên mắt. Lại nữa, được các thứ pháp lợi, hay cùng các người Phạm hạnh dùng chung, cũng không có tưởng bỏn sẻn. Pháp này đáng kính, đáng quý, chớ dé quên mắt. Lại nữa, có các cam giới không hư không hại, rất hoàn toàn không thiếu sót, được người trí quý.
Lại muốn cho giới này bủa khắp cho người khiến đồng mùi vị này. Pháp này đáng kính, đáng quý, chớ để quên mắt. Lại nữa chánh kiến Hiền Thánh được xuất yếu. Cái thấy như thế muốn các người Phạm hạnh cùng đồng pháp này, cũng đáng quý, chớ đề quên mắt.
Đó là, Tỳ-kheo! Có pháp lục trọng này, đáng kính, đáng quý, chớ dé quên mat. Thế nên, các Ty-kheo! Thường nên tu hành thân, khâu, ý hành. Nếu được đồ lợi dưỡng, nên nhớ phân phát, chớ khởi tưởng tham. Như thế, các Tỳ-kheo nên học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, hoan hỷ vâng làm” [Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1998, tr.424] Trong kinh văn gọi sáu pháp này là lục trọng hay lục hòa. Sáu pháp hòa kính này chính là những quy chuẩn căn bản dé thiết lập một hội chúng đệ tử Phật chung sống an vui, hòa hợp và thanh tịnh. Tuy nhiên xét về lịch sử, Sáu pháp hòa kính được nói đầu tiên qua tiêu đề Lục trọng pháp trong kinh Trung A-hàm, 22, được đức Đạo sư đem ra dạy cho Tôn giả A-nan và Sa-di Châu-na nhân hai người đến dé trình lên chỗ thay nghe của Sa-di Châu-na về trường hợp thây trò Ni-kiền Thân Tử, sau khi ông ta mất đi và những cảnh tượng đau lòng giữa các đệ tử của ông xảy ra: 12 “Này A-nan! Nay ta nói cho ngươi sáu pháp ủy lao, hãy lắng nghe kỹ, hãy khéo suy nghĩ kỹ.” Tôn giả A Nan bạch rằng: “Kính vâng, con xin vâng lời lắng nghe.” Phật nói: “Thế nào là sáu? Thân nghiệp từ hòa hướng đến các vị đồng phạm hạnh, pháp ấy gọi là pháp ủy lao. Đó là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Khẩu nghiệp nói năng từ hòa, ý nghiệp từ hòa, cũng vậy. Có lợi lộc nào đúng pháp mà nhận được, cho đến miếng cơm ở chính trong bình bát của mình, với phần lợi như vậy, mang chia sẻ cho các vị đồng phạm hạnh, pháp đó gọi là pháp ủy lao, là pháp khả ái, pháp khả lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa- môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn. Nếu có giới nào không bị sứt mẻ, không bị hư thủng, không bị dơ, không bị đen, vững vàng như mặt đất, được Thánh khen ngợi, đầy đủ khéo thọ trì. Với giới phần như vậy, cùng chia sẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp ủy lao, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
Nếu có kiến giải của Thánh có sự xuất yếu, được thông suốt bằng tuệ kiến, đưa đến sự chân chánh diệt khổ, với kiến phần như vậy, cùng chia sẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp ủy lao, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh can, chứng đắc Niết-bàn. 13 Này A-nan, Ta vừa nói sáu pháp ủy lao, vì vậy mà Ta giảng giải.