Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO 1. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, đạo Công giáo 1. Quản lý nhà nước và vai trò quản lý nhà nước - Quản lý: Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Tùy từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.
Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục tiêu đã định trước. Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ quản lý được thống nhất ở hai nội dung: (1) Quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý. (2) Mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý.
Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Sự tác động này không đơn lẻ, tự phát mà có tính tổ chức, mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình. Từ hai nội dung nêu trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra từ trước” [43].
8 Luan van - Quản lý nhà nước: Hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan. Quản lý xã hội là một chức năng xã hội đặc biệt, xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. - Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người.
Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. - Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. Khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm - Quản lý nhà nước xuất hiện.
Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa: * Theo nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội. * Theo nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp). Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng pháp luật, Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, đạo Công giáo 1. Khái niệm tôn giáo và đạo Công giáo * Tôn giáo: Tôn giáo là hiện tượng xã hội, hình thành và phát triển trong nhiều cộng đồng dân tộc trên thế giới. Do được hình thành và phát triển trong các cộng đồng dân tộc khác nhau, nên tôn giáo rất đa dạng, phong phú. Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ảnh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo; Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo. Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng, súng bái một hay nhiều vị thần linh và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy [42, tr. Trong tác phẩm Chống Đuyring, Ph. Ăngghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [26, tr.
Các nhà nghiên cứu Mácxít về tôn giáo thường coi câu nói trên là định nghĩa của Chủ nghĩa Mác về tôn giáo. Theo Các Mác: “tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm ra được bản thân mình, hoặc để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội.
Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược” [26, tr. Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, Các Mác cho rằng: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [26, tr. 10 Luan van Qua những luận điểm trên cần lưu ý một số vấn đề sau: (1) Tôn giáo không phải là cái tự có mà là sản phẩm của con người, tức xã hội của con người, cũng tức là phương thức tồn tại của con người.
Nói cách khác, tôn giáo chỉ là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức của con người. Vì thế tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh cái tồn tại xã hội sinh ra nó. (2) Song sự phản ánh đó chỉ là sự phản ánh phi lý tính, hoang đường, để rồi sau đó lấy cái phi lý, hoang đường làm chân lý, chuẩn mực để giải thích hoặc chi phối cái hiện thực. (3) Tôn giáo là sản phẩm của con người, nhưng không phải là con người cá nhân, riêng lẻ mà là con người xã hội, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội.
(4) Xét về bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội tiêu cực, nó vừa biểu thị sự phản kháng tiêu cực trước những nỗi khổ đau và bất hạnh của con người, vừa biểu thị sự nhẫn nhục, sự bất lực của con người trước những sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội. Ở Việt Nam, cũng có nhiều cách định nghĩa về tôn giáo; theo một số Từ điển Tiếng Việt, “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng, tôn thờ”. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tôn giáo được quy định tại Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [60, tr. * Tổ chức tôn giáo: Tổ chức tôn giáo là một tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức theo một cơ cấu nhất định, tổ chức này được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và được cấp phép hoạt động.
Khoản 12, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo 11 Luan van được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”. Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi có đủ các điều kiện sau [60]: - Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; - Có hiến chương theo quy định; - Người đại diện, người lãnh đạo tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; - Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; - Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; - Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. * Tổ chức tôn giáo trực thuộc: Khoản 13, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định: “Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo” [60]. * Cơ sở tôn giáo: Khoản 14, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo” [60].
* Tín đồ tôn giáo: Khoản 6, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định: “Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” [60].