phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát diễn xƣớng nghi lễ lên đồng truyền thống Chƣơng 2. Biến đổi của không gian và chủ thể thực hành diễn xƣớng nghi lễ lên đồng Chƣơng 3. Biến đổi về trình tự và thành tố cấu trúc trong diễn xƣớng nghi lễ lên đồng Chƣơng 4.
Nguyên nhân biến đổi và những vấn đề đặt ra đối với diễn xƣớng nghi lễ lên đồng trong xã hội hiện nay 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT DIỄN XƢỚNG NGHI LỄ LÊN ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 1. Tổng quan nghiên cứu về diễn xƣớng nghi lễ lên đồng Trong những năm gần đây, tín ngƣỡng thờ “Mẫu” phát triển mạnh mẽ, và nghi lễ đặc trƣng là “DXNLLĐ” cũng không ngừng thay đổi diện mạo theo nhiều chiều hƣớng khác nhau … Có lẽ hiếm thấy một hình thức tôn giáo tín ngƣỡng dân gian nào nhƣ đạo Mẫu, trong đó tiêu biểu là DXNLLĐ mà ở đó tích hợp nhiều hiện tƣợng, giá trị văn hóa mang sắc thái dân tộc, độc đáo nhƣ nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật diễn xƣớng, các hình thức sinh hoạt cộng đồng gắn liền với yếu tố “thiêng” trong một không gian “thiêng” nhƣ DXNLLĐ của ngƣời Việt. Hoạt động này xuất hiện và tồn tại lâu đời trong một không gian rộng và đã thu hút nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về diễn xướng nghi lễ lên đồng của các tác giả nước ngoài Là một nghi lễ mang tính nguyên hợp cao, tích hợp trong đó nhiều lớp lang văn hóa, nghệ thuật, tín ngƣỡng, vì thế DXNLLĐ đƣợc khá nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu.
Trƣớc hết phải kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các học giả nƣớc ngoài, nhƣ: Kỹ thuật và thần điện của ông đồng, bà đồng Việt Nam, xuất bản tại Pari năm 1959 của M. Nhƣ tên gọi của công trình, tác giả nhấn mạnh đến kỹ thuật lên đồng với tính chất là nghi lễ nhập hồn nhiều lần, khi mà các ông bà đồng đã tự đƣa mình vào trạng thái ngây ngất (ecstasy), giống nhƣ loại tín ngƣỡng ở cƣ dân bản địa. Tác giả cũng đã nêu một số vị thần linh và thần tích của họ thƣờng nhập hồn vào thân xác của các ông đồng, bà đồng. Hầu đồng, một nghi lễ nhập đồng của người Việt Nam du nhập ở Pháp, xuất bản tại Pari năm 1973 của hai tác giả P.
Họ nghiên cứu hiện tƣợng lên đồng, các vị thần linh nào hay 11 nhập đồng, thứ tự các giá đồng, phục trang, đạo cụ tƣơng ứng, lời phán truyền khi lên đồng … Có thể nói họ đã có những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu tục lên đồng của ngƣời Việt vào các thập niên 50 - 70 thế kỷ XX. Một số học giả nƣớc ngoài, tiêu biểu nhƣ Barley Norton (2009) đi sâu tìm hiểu về âm nhạc học dân tộc của hát văn, nghiên cứu về âm nhạc thông qua giới, tộc ngƣời. Endres Kirsten khám phá các khía cạnh công hiệu của nghi lễ lên đồng và vấn đề lên đồng và thị trƣờng (2011). Oscar Salemink bàn luận về con ngƣời tìm kiếm sự an toàn về tinh thần nên đến với lên đồng (2014).
Tác giả Chauvet nghiên cứu về các bản hội và đi lễ xa (2010). Karen Fjelstad (2006, 2010) tìm hiểu sâu về những ngƣời Việt Kiều ở California, Hoa Kỳ đã phát triển tín ngƣỡng này nhƣ thế nào và những vấn đề xuyên quốc gia trong mối quan hệ với quê hƣơng Việt Nam. Nghiên cứu về nghi lễ lên đồng nói chung, một số học giả quan tâm đến vị trí của nữ trong thực hành ở châu Phi nhƣ là phong trào chống lại việc bị coi là vị thế thấp hơn. Một số nhà nghiên cứu quan tâm đến nghi lễ lên đồng giúp điều chỉnh sự mất cân bằng về quyền lực của giới tính nhƣ Erika Bourguignon.
Tác giả cho rằng “đối với phụ nữ, nghi lễ lên đồng tạo nên một phản ứng tâm lý năng động tới sự bất lực để cung cấp cho họ một phƣơng tiện nhằm làm thỏa mãn những mong muốn thƣờng ngày mà họ bị từ chối”. Trong môi trƣờng lên đồng, trong khi hầu đồng, việc thần thánh nhập vào các ông/bà đồng cũng là làm cho họ thay đổi, thể hiện sức mạnh, cái tôi của họ rõ nét và mạnh mẽ hơn. Theo tác giả, nhập đồng thể hiện bản sắc của các vị thần và khi nhập vào các bà đồng đã tạo cho ngƣời phụ nữ một cách thức chấp nhận thể hiện suy nghĩ và tình cảm mà bị cấm đoán trong bối cảnh vị thế xã hội thấp kém (Bourguignon 2004). Thông qua nghi lễ lên đồng, những ngƣời phụ nữ đã tái đặt hiện thực hàng ngày về thế giới của họ và những mối quan tâm riêng cụ thể (Boddy 1989).
Nghiên cứu về nghi lễ Zebola dành cho nữ ở Mông gô tại nƣớc cộng hòa dân chủ Công gô, tác giả Allen 12 Corin cho rằng nghi lễ lên đồng xác định nền tảng mối quan hệ của phụ nữ Mông gô với trật tự văn hóa (1998). Ở Trung Quốc lên đồng xuất hiện từ đạo Lão và theo các diễn biến lịch sử lan truyền sang các nƣớc châu Á khác (Myanma, Lào, Việt Nam…). Trong chuyên luận “Vũ thuật thần bí” Diêu Chu Huy nghiên cứu và phê phán thuật lên đồng, thuật cầu hồn nhập xác, [31]. Ông đã mô tả đầy đủ các thủ thuật lên đồng, các nhận định về bản chất và hiện tƣợng lên đồng rất bổ ích cho nghiên cứu hiện tƣợng lên đồng ở Việt Nam vì ở hai nƣớc lên đồng có nhiều điểm giống nhau.
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả các thủ thuật hay các nhân tố gây ra hiện tƣợng lên đồng có nhiều điểm tƣơng tự: niềm tin, nhạc cụ, điệu hát, điệu múa, y phục, chất kích thích, sự ngƣỡng mộ của cộng đồng … Nhận xét: Nhìn chung các tác giả mô tả khái quát, thống kê hệ thống thần linh và hiện tƣợng “đồng bóng” giai đoạn đó dƣới lăng kính của các học giả nƣớc ngoài từ góc nhìn văn hóa bản địa. Các tác giả nhấn mạnh đến kỹ thuật lên đồng với tính chất là nghi lễ nhập hồn nhiều lần khi mà các bà đồng, ông đồng đã tự đƣa mình vào trạng thái ngây ngất. Các tác giả cũng nêu một số vị thần linh thƣờng nhập hồn vào thần xác của các ông đồng, bà đồng. Đây có thể coi là những công trình đầu tiên nghiên cứu tục lên đồng mang tính chất Shaman của đạo Tam phủ, Tứ phủ.
Các công trình nghiên cứu về diễn xướng nghi lễ lên đồng của các tác giả trong nước Trong thờ Mẫu và DXNLLĐ đƣợc khá nhiều các nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Trong đó, ngƣời có nhiều đóng góp đáng kể với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị là GS Ngô Đức Thịnh tiêu biểu: Ngô Đức Thịnh (chủ biên) với Đạo Mẫu ở Việt Nam - Nhà xuất bản Thế giới [73, tr.81]: Tài liệu có những phân tích khá sâu về nguồn gốc thờ nữ thần và sự thâu nhận một số tín ngƣỡng khác trong thờ Mẫu của ngƣời Việt. Với DXNLLĐ tác giả 13 cũng đã cung cấp những thông tin đáng kể về hình thức diễn xƣớng và những phân tích về nội hàm khái niệm của nghi lễ. Từ “Đạo Mẫu ở Việt Nam” (1996) rồi “Đạo Mẫu” (2001) và “Đạo Mẫu Việt Nam” (2010) đó là tên gọi sau 3 lần tái xuất bản, hiện tƣợng lên đồng trong DXNLLĐ đƣợc tác giả Ngô Đức Thịnh nghiên cứu trong “Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận” - xuất bản năm 2008, tái bản năm 2010 tại nhà xuất bản Thế giới [72] cùng công trình “Đạo Mẫu Việt Nam”.
Hai công trình này thuộc 2 lĩnh vực rộng, hẹp khác nhau nhƣng lại liên quan chặt chẽ đến nhau. Nếu nhƣ trong công trình “Đạo Mẫu Việt Nam” giới thiệu một cách tổng thể một hình thức tín ngƣỡng mang tính bản địa tôn thờ nữ thần, ngƣời mẹ, với tƣ cách là vị thần có quyền năng sáng tạo và che chở cho con ngƣời, đáp ứng những khát vọng của con ngƣời về phúc - lộc - thọ, thì DXNLLĐ lại là một nghi lễ tiêu biểu điển hình nhất của đạo Mẫu. Vào những thập kỷ 60-80 chúng ta có sắc lệnh cấm đồng bóng, xem bói, rút quẻ… các đền, miếu bị đóng cửa, thậm chí bị phá hủy, các ông đồng, bà đồng bị tập trung cải tạo, đồ nghề bị tịch thu… thế mà đồng bóng vẫn cứ lén lút diễn ra, vẫn sống âm ỉ nhƣ các mạch ngầm trong đời sống dân gian. Công trình một lần nữa khẳng định lên đồng là nghi lễ đặc trƣng của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của ngƣời Việt.
Nghi lễ này mang trong nó chất Shaman giáo, một loại hình tín ngƣỡng khá phổ biến trong nhiều dân tộc ở nƣớc ta cũng nhƣ trên thế giới, mà điển hình nhất là các dân tộc vùng thảo nguyên châu Á và Siberi. Công trình không dừng lại ở việc nhận diện và nhận thức bản chất của DXNLLĐ mà hiện tƣợng cốt lõi là lên đồng, bƣớc đầu tìm hiểu các khía cạnh tâm sinh lý của các thanh đồng - chủ thể của hoạt động lên đồng. Mặt khác tác giả cũng khái quát các khía cạnh về quan hệ đồng giới, khía cạnh kinh tế, xã hội của hoạt động lên đồng [72, tr. Công trình “Hát văn” của nhóm tác giả Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật, Phạm Văn Ty và Tô Đông Hải - xuất bản năm 1992 [68], bƣớc đầu đã liên kết đƣợc hai phạm trù Tam phủ - Tứ phủ và lên đồng.
Coi lên đồng không phải là 14 một tín ngƣỡng riêng lẻ mà chỉ là một hoạt động trong DXNLLĐ trong tổng thể nghi lễ của tín ngƣỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Các tác giả đặt ra hàng loạt các vấn đề về điện thần của Tam phủ, Tứ phủ, mối quan hệ giữa Tam phủ, Tứ phủ với các tín ngƣỡng dân gian khác, nguồn gốc, các khuynh hƣớng phát triển của hát văn, lên đồng, tính địa phƣơng hóa của hoạt động tín ngƣỡng này. Đặc biệt, các khía cạnh nghệ thuật hát văn đƣợc nêu lên một cách hệ thống. Vì vậy, có thể coi “Hát văn” là công trình đầu tiên đặt cơ sở cho việc nghiên cứu nghệ thuật lên đồng.