Chương 1). 13 Trần Ngọc Thêm (2001): cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng).
Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó – mới có những mầm móng của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu. Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Ki tô giáo… đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện” (tr.
Theo Nguyễn Chí Bền (2006), từ góc độ văn hóa, xem tín ngưỡng “là một bộ phận cấu thành của văn, được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người” (tr. Nguyễn Quốc Phẩm (1998) thì xem tín ngưỡng “là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người thường gắn liền với niềm tin tôn giáo” (tr.24) Công trình Ma thuật khoa học và tôn giáo, Malinowski (2006) cho rằng: Tín ngưỡng ra đời khi mà cuộc sống của con người có nhiều sự trở ngại và bất trắc. Cụ thể hơn, ông đã đưa ra một ví dụ về sự tồn tại của ma thuật (tín ngưỡng) ở nghề đánh cá: “Vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ đối với việc đánh bắt cá ở phá, khi con người hoàn toàn dựa vào kiến thức và kĩ năng của mình, ma thuật không tồn tại; trong khi đối với việc đánh bắt cá ngoài khơi, đầy nguy hiểm và bất trắc, người ta sử dụng một hệ thống nghi lễ ma thuật với phạm vi rộng lớn để đảm bảo an toàn và kết quả cao (tr. 14 Tín ngưỡng là một khái niệm khá phức tạp, tín ngưỡng không thể hiểu thuần túy là hiện tượng mê tín thông thường.
Thực tế cho thấy tín ngưỡng có sức sống rất mãnh liệt từ xưa đến nay, dù sống trong xã hội nào con người cũng có trong tiềm thức một niềm tin. Niềm tin đó giúp họ cảm thấy mạnh mẽ và yêu đời hơn, từ đó lan tỏa đến cộng đồng hình thành nên một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo khác nha, tuỳ theo không gian hay quốc gia mà cộng đồng đó sinh sống. Bên cạnh đó, những niềm tin và thực hành văn hóa của con người gắn bó chặt chẽ với các hình thái tín ngưỡng. Trong đó, niềm tin tín ngưỡng là cái hồn, là động lực cho các thực hành văn hoá thăng hoa.
Trong tác phẩm Các dạng thức văn hóa ở Việt Nam, Ngô Đức Thịnh (2006) cho rằng: “Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hóa đặc thù. Đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ” (tr. Có các hình thức tín ngưỡng như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ tổ nghề và tín ngưỡng thờ thần thánh. Trong tín ngưỡng thờ thần thánh có tín ngưỡng thờ Mẫu, phổ biến nhất là tín ngưỡng thờ nữ thần và mẫu thần.
Văn hóa tín ngưỡng nói riêng và tín ngưỡng nói chung từ trước đến nay đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều nhận định. Văn hóa tín ngưỡng là một khái niệm kép gồm văn hóa và tín ngưỡng, mỗi khái niệm đều chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Để hiểu rõ hơn về văn hóa tín ngưỡng, chúng ta cùng điểm qua một vài nhận định về văn hóa của các nhà nghiên cứu, có thể thấy có bao nhiêu nhà nghiên cứu ở lĩnh vực văn hóa là có bấy nhiêu cách nhận định khác nhau. Một trong những người đưa ra định nghĩa về văn hóa khá sớm trên thế giới là E.
Theo Tylor (2000) văn hóa được hiểu: 15 Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về dân tộc học, là toàn bộ phức thể bao gồm những tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau, mà con người có được với tư cách là thành viên của một xã hội (tr. Định nghĩa này được xem là nền tảng trong khoa học nghiên cứu về văn hóa ở phương Tây. Định nghĩa mang tính chất liệt kê về bản chất, đặc trưng và những gì thuộc về văn hóa. Từ định nghĩa này, văn hóa trở thành đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau.
Feredico Mayor Zaragoza, Tổng giám đốc Unesco phát biểu trong buổi lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa được tổ chức tại Paris ngày 20/01/1988 như sau: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” (UBQG về thập niên thế giới phát triển văn hóa, 1992, tr. Theo cách hiểu của Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa (Dẫn theo Trường Chinh, 1974, tr. Theo Trần Ngọc Thêm (1996): Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (tr.
Theo Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm (2013): Văn hóa là tập hợp những đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuyệt và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa chứa 16 đựng, bên cạnh nghệ thuật và văn chương, cả cách sống, phương thức chung sống, các hệ thống giá trị, các tập tục và tín ngưỡng (tr.1) Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu văn hóa là một hiện tượng bao trùm lên tất cả mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Vì thế, tùy theo góc độ tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về văn hóa khác nhau. Tuy không đưa ra định nghĩa về văn hóa tín ngưỡng nhưng tác giả Trần Ngọc Thêm đã nhấn mạnh đặc tính của tín ngưỡng là một nhu cầu tinh thần của con người hướng tới những điều thiêng liêng, theo Trần Ngọc Thêm (1997) thì: “Tín ngưỡng Việt Nam, cũng như những bộ phận khác của văn hóa, là tấm gương phản ánh trung thành những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hoá Việt Nam” (tr.
Trong khi đó, Đỗ Quang Hưng (2015) lại cho rằng: Những giá trị của văn hóa tâm linh còn gắn bó chặt chẽ với giá trị của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, nhiều khi không thể tách biệt được. Nhưng giá trị văn hóa tâm linh là cái hồn, cốt, là động lực và nhiều khi đồng nhất với văn hoá tôn giáo nói chung (tr. Theo Nguyễn Văn Bốn (2010): Văn hoá tín ngưỡng là hệ thống giá trị về những phương cách ứng xử của con người đối với thế giới siêu nhiên hay xã hội có liên quan đến đời sống của mình. Những phương cách ứng xử đó phản ánh các điều kiện vật chất và tinh thần tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của một cộng đồng cư dân” (tr.
Từ những nhận định về văn hóa và tín ngưỡng chúng ta vừa tìm hiểu trên, có thể thấy văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một hình thức tín ngưỡng nào đó, rồi nảy sinh, tích hợp truyền thuyết, các hình thức diễn xướng tâm linh, nghi lễ, lễ hội, truyền thuyết… nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người.2 Khái niệm vùng văn hóa 17 Lý thuyết vùng văn hóa đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình diễn giải các hiện tượng văn hóa do con người sáng tạo ra trong một không gian nhất định. Bản chất của nền văn hóa Việt Nam là thống nhất trong đa dạng, mà văn hóa mỗi vùng, miền, khu vực với những đặc trưng riêng chính là sự cụ thể hóa cho tính đa dạng ấy. Vì thế tìm hiểu về văn hóa của các vùng văn hóa trên cả nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu nền văn hóa Việt Nam. Theo Trần Ngọc Thêm (2001) đã định nghĩa như sau: Vùng văn hóa là một không gian văn hóa liên tục; trong đó tồn tại một chủ thể văn hóa thống nhất và chủ thể đó hoạt động đồng hướng trong một thời gian văn hóa đủ dài, tạo nên một hệ thống giá trị đặc thù cho phép khu biệt vùng đang xem xét với những vùng có liên quan” (tr.
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh (2019): Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu - ảnh hưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, thể hiện với vùng văn hóa khác” (tr. Trong khi đó, Huỳnh Khái Vinh (1995) lại cho rằng: Văn hóa vùng không chỉ là cái gạch nối giữa văn hóa làng và văn hóa quốc gia đa dân tộc, mà còn là yếu tố thăng bằng kết dính giữa tính thống nhất của văn hóa Việt Nam với tính đa dạng có phần rời rạc của văn hóa làng” (tr.