Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Võ Hoàng Khải thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Thu Yến.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ sau thời kỳ Đổi mới (1986), sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam đã thúc đẩy nhu cầu thực hành văn hóa, phục hồi các di tích và lễ hội truyền thống, trong đó có tín ngưỡng thờ phụng các bậc tiền nhân có công khai phá đất đai và các anh hùng dân tộc hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ đất nước. Trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp nửa cuối thế kỷ XIX tại Nam Bộ, nhiều thủ lĩnh nghĩa quân đã hy sinh oanh liệt như Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, nhưng việc phụng thờ thường chỉ giới hạn ở địa bàn hoạt động hoặc nơi dấy nghiệp. Riêng đối với Nguyễn Trung Trực, sự tôn kính của cộng đồng đã lan tỏa khắp toàn cõi Nam Bộ, tạo nên một hệ thống cơ sở thờ tự từ Long An, Kiên Giang đến các tỉnh Nam sông Hậu, đồng thời tích hợp sâu vào các tín ngưỡng dân gian và tôn giáo bản địa.
Trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Trung Trực chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học, văn học dân gian, biên khảo du lịch, báo chí hoặc chỉ giới hạn nghiên cứu trường hợp tại một địa phương cụ thể như Kiên Giang hay Long An. Vấn đề thờ cúng, thực hành nghi lễ và lễ hội Nguyễn Trung Trực vẫn thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và sâu sắc dưới góc nhìn Văn hóa học trên quy mô toàn vùng Nam Bộ, đặc biệt là tại địa bàn miền Nam sông Hậu (An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Trà Vinh) và sự tích hợp vào các hệ phái tôn giáo bản địa (Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo). Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Khảo sát, nghiên cứu không gian thờ tự, các nghi thức tế lễ và việc tổ chức hội của các đình Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ; từ đó xác định bản chất, giá trị cùng những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa của cư dân Nam Bộ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng bộ dữ liệu về các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, huyền thoại và lễ hội gắn liền với việc thờ phụng anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ.
- Xác định đặc điểm, quá trình hình thành và biến đổi của tín ngưỡng này trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.
- Nêu một số vấn đề cần bàn luận về công tác quản lý và thực hành tín ngưỡng gắn với lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong giai đoạn hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực xuất hiện và phát triển như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa Nam Bộ?
- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực hiện diện, thực hành và ảnh hưởng như thế nào đến đời sống văn hóa tâm linh của người Nam Bộ?
- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực đã, đang thay đổi và sẽ thay đổi theo hướng nào trong hiện tại và tương lai?
- Làm cách nào để tín ngưỡng này vẫn được lưu truyền và giữ được những giá trị nhân văn cao cả trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ?
Giả thuyết nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực là một trong những tín ngưỡng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội của cư dân Nam Bộ. Tín ngưỡng này đã và đang được tích hợp mạnh mẽ vào tôn giáo, các tín ngưỡng dân gian khác ở Nam Bộ để mang một diện mạo mới, sắc thái mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
- Phạm vi nội dung: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ.
- Phạm vi không gian: Địa bàn các tỉnh Nam Bộ, tập trung khảo sát 37 di tích, đình thờ Nguyễn Trung Trực; mở rộng nghiên cứu sâu tại các tỉnh miền Nam sông Hậu gồm An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và Trà Vinh bên cạnh các trung tâm truyền thống như Long An và Kiên Giang.
- Phạm vi thời gian: Sinh hoạt tín ngưỡng trong thờ cúng Nguyễn Trung Trực trước và sau năm 1975, đặc biệt trọng tâm từ năm 1989 (thời điểm đền và mộ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề theo hai giai đoạn thời gian và hai nhóm nội dung chính:
Các công trình công bố trước năm 1975
- Nguyễn Liên Phong (1909): Trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, tác giả ghi lại những vần thơ về chiến công đốt tàu Nhật Tảo, đánh đồn Rạch Giá và thời kỳ rút ra Phú Quốc của Nguyễn Trung Trực.
- Sơn Nam - Ngọc Linh (1959): Công bố bài viết Nguyễn Trung Trực, người anh hùng làng chài trên báo chí Sài Gòn, bước đầu phác thảo thân thế và sự nghiệp.
- Tập san Sử Địa (Sài Gòn, 1968): Phát hành chuyên đề số 12 (Đặc khảo về Nguyễn Trung Trực) nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông, quy tụ các nghiên cứu quan trọng:
- Phù Lang Trương Bá Phát khảo cứu về hành trạng, chiến công và dịch bản khảo cung của thực dân Pháp gồm 19 câu hỏi đối với Nguyễn Trung Trực.
- Lê Thọ Xuân ghi chép tư liệu điền dã, truyền thuyết, chi tiết sử dụng đoản kiếm trong trận Nhật Tảo và hai câu đối chữ Việt cổ tại đình thờ.
- Phạm Văn Sơn phân tích bối cảnh lịch sử, thái độ của triều đình Huế và mưu kế dùng thuyền rơm chở bổi tiếp cận đốt tàu Espérance.
- Thi sĩ Đông Hồ cải chính việc vua Tự Đức làm thơ điếu ngay khi ông mất (thực tế nhiều năm sau mới truy xét), đồng thời dẫn chứng tác phẩm Gia Định tam tiên liệt truyện của Trương Gia Mô (Cúc Nông) xếp Nguyễn Trung Trực ở vị trí hàng đầu trước Nguyễn Hữu Huân và Hồ Huân Nghiệp.
- Các bài viết khác của Sơn Nam, Nguyễn Xuân Thọ (Nguyễn Huy dịch), Vương Hồng Sển về bối cảnh chính trị và thái độ của nhân dân Nam Bộ.
- Đào Văn Hội (1972): Công trình địa phương chí Tân An ngày xưa ghi nhận chiến công trên sông Nhật Tảo là sự kiện kháng Pháp gây tiếng vang lớn trên đất Long An.
Các công trình công bố sau năm 1975
- Nhóm nghiên cứu lý thuyết, tín ngưỡng và lễ hội: Ngô Đức Thịnh (2001) với Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam luận giải quy luật tôn vinh người có công thành nhân thần và sự phát triển của lễ hội từ cấp địa phương đến quy mô vùng; Nguyễn Tri Nguyên (2004) nghiên cứu đặc trưng tín ngưỡng dân gian; Lê Hồng Lý (chủ biên, 2008) về sự biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng; Nguyễn Thị Bích Thủy (2015) và Nguyễn Thị Phương Châm - Đỗ Lan Phương (2016) cung cấp khung lý thuyết về sự biến đổi văn hóa làng xã, không gian di tích và lễ hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa; Nguyễn Thừa Hỷ (2016) nghiên cứu về giao lưu, tiếp biến và hỗn dung văn hóa.
- Nhóm nghiên cứu trực tiếp về Nguyễn Trung Trực và văn hóa Nam Bộ:
- Địa chí và lịch sử khởi nghĩa: Thạch Phương - Lưu Quang Tuyến (chủ biên, 1989) trong Địa chí Long An; Giang Minh Đoán (1991); Trương Minh Đạt (1992, 2011) với các khảo cứu và cải chính lịch sử; Vũ Minh Giang (2019) trong Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam; Nhiều tác giả (2008) tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
- Văn hóa dân gian và truyền thuyết: Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Hứa, Nguyễn Quang Vinh (1992); Trương Ngọc Tường - Huỳnh Ngọc Trảng (1992, 1999); Nguyễn Phương Thảo (1997); Vĩnh Xuyên (1995, 1998, 1999); Nguyễn Văn Khoa (2001); Huỳnh Minh (2001, 2002); Trần Văn Nam - Trần Văn Giữ (2010); Võ Phúc Châu (2011); Nguyễn Bình Phương Thảo - Nguyễn Thanh Lợi (2016).
- Kỷ yếu hội thảo và nghiên cứu lễ hội, tín ngưỡng địa phương: Kỷ yếu Hội thảo khoa học do UBND tỉnh Kiên Giang và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức (2009, in năm 2011) với các tham luận của Nguyễn Nghị (tư liệu của Paulin Vial, Alfred Scheiner), Trương Minh Đạt (cổ lệ tế lễ 3 ngày: Túc Yết, Đàn Cả, Tiền Hiền - Hậu Hiền), Nguyễn Hữu Hiệp (tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương ở An Giang), Lê Công Lý (tục cúng chay bàn chính tại Long An), Anh Động, UBND TP Rạch Giá, Nguyễn Văn Thiện, Võ Thanh Hùng (Sóc Trăng), Tiền Văn Triệu; Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo (2011); Võ Thanh Xuân (2014); Phạm Văn Thức (2015); Đỗ Thị Hà Thơ (2018); Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng (2018).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chưa bao quát được toàn diện mạng lưới 37 cơ sở thờ tự trên toàn cõi Nam Bộ, chưa đi sâu phân tích cơ cấu thực hành nghi lễ, tính chất tích hợp tôn giáo tại vùng Nam sông Hậu, cũng như chưa vận dụng đồng bộ hệ thống lý thuyết văn hóa học hiện đại để giải mã sự biến đổi và giá trị thực tiễn của tín ngưỡng này. Luận án định vị là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên về tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực dưới góc độ Văn hóa học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm công cụ
- Văn hóa: Luận án tiếp thu các định nghĩa của E. Tylor, B. Malinowski, E. Sapir, Đào Duy Anh, Hồ Chí Minh, Phan Ngọc và Trần Ngọc Thêm, nhìn nhận văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
- Tín ngưỡng và Tôn giáo: Căn cứ theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016), quan điểm của Patrick Mullen, Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng và Ngô Đức Thịnh. Tín ngưỡng thể hiện niềm tin, sự sùng kính của con người vào lực lượng linh thiêng/nhân thần nhằm tìm kiếm sự bình an tinh thần, gắn với phong tục tập quán truyền thống.
- Đời sống văn hóa: Được xem xét thông qua ba thành tố cơ bản: chủ thể văn hóa (cộng đồng cư dân Nam Bộ đa tộc người), hoạt động văn hóa (thực hành cúng tế, lễ hội, thiện nguyện) và sản phẩm văn hóa (di tích vật thể, huyền thoại phi vật thể).
Khung lý thuyết tiếp cận
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Bắt nguồn từ Emile Durkheim, được Bronislaw Malinowski và Radcliffe-Brown phát triển. Luận án tiếp cận tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực như một chỉnh thể hữu cơ toàn vẹn, được tạo thành bởi ba thành tố cốt lõi: cơ sở thờ tự, huyền thoại/truyền thuyết và lễ hội. Lý thuyết này được vận dụng để phân tích các chức năng đáp ứng nhu cầu tâm linh, cố kết cộng đồng, điều hòa xã hội và bảo tồn trao truyền văn hóa.
- Lý thuyết biến đổi văn hóa: Được Julian Haynes Steward khởi xướng (1955) và Winthrop (1991) tổng kết, kết hợp các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm. Lý thuyết này giúp phân tích sự biến đổi của tín ngưỡng (về kiến trúc, thời gian giỗ, nghi thức cúng tế, hoạt động hội) dưới tác động của các nguyên nhân chủ quan (chính sách của Đảng, Nhà nước) và khách quan (kinh tế, đô thị hóa, giao thông).
- Lý thuyết vùng văn hóa: Khởi xướng bởi Franz Boas, Clark Wissler, Alfred Kroeber, Melville Herskovits, George P. Murdock, Paul Vidal de la Blache và Carl Sauer. Lý thuyết này giải thích sự hình thành, lan tỏa và đặc trưng của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực gắn chặt với cảnh quan sinh thái tự nhiên vùng sông nước Nam Bộ và môi trường xã hội đa tộc người (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm).
Phương pháp nghiên cứu
- Hướng tiếp cận liên ngành: Kết hợp Văn hóa học với Sử học, Dân tộc học, Xã hội học và Văn học dân gian.
- Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Khai thác tài liệu lưu trữ, thư tịch cổ, địa chí, kỷ yếu hội thảo và các báo cáo ngành văn hóa.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi khảo sát thực tế tại các cơ sở thờ tự với 330 phiếu khảo sát, nhập và xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS.
- Phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu: Trực tiếp tham gia các kỳ lễ hội, khảo sát kiến trúc, ghi chép thực hành nghi lễ; phỏng vấn sâu thành viên ban quản trị các đình, người tham gia lễ hội, các nhà quản lý văn hóa và hậu duệ gia tộc người anh hùng (tiêu biểu như ông Nguyễn An Thọ tại xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Kết hợp số liệu định lượng, dữ liệu phỏng vấn sâu với các luận điểm lý thuyết và chủ trương chính sách.
- Phương pháp so sánh:
- So sánh đồng đại: Đối chiếu tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực với việc phụng thờ các vị thủ lĩnh kháng Pháp cùng thời (Trương Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương).
- So sánh lịch đại: Đối chiếu diễn tiến sinh hoạt tín ngưỡng qua các mốc thời gian (trước 1975, sau 1975, từ 1989 đến nay).
Nguồn tư liệu và cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn được xây dựng dựa trên bối cảnh địa lý tự nhiên vùng Nam Bộ (hạ lưu hai con sông Đồng Nai và Cửu Long với 57.000 km đường sông rạch), lịch sử khẩn hoang từ thế kỷ XVII và cơ cấu dân cư đa tộc người: người Việt chiếm hơn 90% cùng sự cộng cư lâu đời của người Khmer (hơn 1,2 triệu người), người Hoa, người Chăm và các tộc người bản địa (Stiêng, Mạ, Chrau).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến Nguyễn Trung Trực và tín ngưỡng thờ nhân thần; xác lập hệ thống khái niệm công cụ và cơ sở lý thuyết tiếp cận (cấu trúc - chức năng, biến đổi văn hóa, vùng văn hóa). Về mặt thực tiễn, chương này phân tích các điều kiện địa lý tự nhiên, lược sử vùng đất Nam Bộ từ nền văn hóa Óc Eo, Phù Nam, quá trình khai phá dưới thời các chúa Nguyễn (mốc lập phủ Gia Định năm 1698 của Nguyễn Hữu Cảnh), bức tranh chủ thể văn hóa đa tộc người và tổng quan sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội dân gian tại Nam Bộ.
Chương 2: Nguyễn Trung Trực – Nhân vật lịch sử và huyền thoại
Chương 2 phân tích bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp xâm chiếm Gia Định và Nam Kỳ. Tác giả đối chiếu phong trào kháng chiến của Nguyễn Trung Trực với các thủ lĩnh cùng thời:
- Trương Định (1860 – 1864) tại căn cứ Gò Công.
- Thủ Khoa Huân (1862 – 1875) tại Mỹ Tho, Tân An.
- Thiên Hộ Dương (1860 – 1886) tại Đồng Tháp Mười.
Tác giả tái hiện tiểu sử lịch sử và hai chiến công tiêu biểu của Nguyễn Trung Trực: trận hỏa công đốt cháy tàu Espérance trên vàm sông Nhật Tảo (tháng 12/1861) và trận tập kích chiếm đồn Kiên Giang tại Rạch Giá (tháng 6/1868), giai đoạn lập căn cứ tại đảo Phú Quốc và sự kiện ông hy sinh tại chợ Rạch Giá vào tháng 10/1868 với câu nói khẳng định ý chí chống ngoại xâm: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".
Tiếp đó, chương này phân tích quá trình huyền thoại hóa và thiêng hóa người anh hùng trong tâm thức dân gian:
- Huyền thoại về tài năng võ nghệ, lời thề xuất quân và vũ khí chiến đấu (truyền thuyết đoản kiếm).
- Huyền thoại về hai chiến tích lừng lẫy ("Hỏa hồng Nhật Tảo", "Kiếm bạt Kiên Giang") và căn cứ địa Phú Quốc.
- Huyền thoại về cái chết bất tử, sự hiển linh che chở dân lành sau khi mất và quá trình tìm kiếm thủ cấp để phụng thờ trọn vẹn.
- Truyền thuyết về lòng hiếu đễ với mẹ già (chấp nhận nộp mình để bảo toàn tính mạng cho mẹ và nhân dân), sự thủy chung với vợ con và nghĩa khí trọn vẹn với binh sĩ, bạn bè.
Chương 3: Khảo sát việc thờ phụng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ
Chương 3 trình bày kết quả điền dã khảo sát hệ thống cơ sở thờ tự và thực hành lễ hội:
- Khảo sát hệ thống cơ sở: Luận án thống kê 37 di tích, đình thờ Nguyễn Trung Trực phân bố khắp các tỉnh Nam Bộ; phân tích cấu trúc không gian kiến trúc đình làng Nam Bộ, thời gian tổ chức và trình tự các nghi thức cúng tế cổ truyền.
- Khảo sát các lễ hội và điểm thờ tiêu biểu:
- Long An: Khu di tích vàm Nhật Tảo (huyện Tân Trụ) và nơi thờ cúng tại quê hương người anh hùng (xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức).
- Kiên Giang: Đình Nguyễn Trung Trực tại TP. Rạch Giá (trung tâm lớn nhất), Đình Vĩnh Hòa Hiệp (huyện Châu Thành - vùng Tà Niên) và Đình Nguyễn Trung Trực tại huyện Phú Quốc.
- Các tỉnh Nam sông Hậu: Đình và cơ sở thờ cúng tại An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng (Đình thị trấn Long Phú, Đình Cù Lao Dung, Cổ đình Đại Hữu với lịch sử trên 135 năm), Hậu Giang và Trà Vinh (Đình Nguyễn Trung Trực tại xã An Quảng Hữu và xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú).
- Thờ vọng tại gia: Tục lập bàn thờ Nguyễn Trung Trực trong các gia đình cư dân Nam Bộ và tín đồ các tôn giáo bản địa.
- Những biến đổi của tín ngưỡng:
- Kiến trúc: Được tôn tạo, mở rộng quy mô khang trang bằng vật liệu kiên cố từ nguồn vốn xã hội hóa.
- Thời gian giỗ: Tồn tại tính linh hoạt, một số nơi tổ chức đúng ngày mất (tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch), một số nơi tích hợp ngày giỗ vào lễ Kỳ yên của làng.
- Nghi thức: Đơn giản hóa một số nghi thức rườm rà nhưng duy trì chuẩn mực lễ tế thần Thành hoàng; đặc thù bàn thờ chính luôn cúng đồ chay thanh tịnh kết hợp hoa quả trà rượu, cúng mặn chỉ dành cho bàn binh gia ở bên ngoài.
- Hoạt động hội: Bổ sung các hoạt động sân khấu hóa, đờn ca tài tử, thể dục thể thao hiện đại, triển lãm ảnh và hội chợ thương mại.
- Nguyên nhân biến đổi: Phân tích nguyên nhân chủ quan từ sự đổi mới trong chủ trương, chính sách tôn giáo tín ngưỡng của Nhà nước và nguyên nhân khách quan từ sự chuyển dịch kinh tế, giao thông phát triển và mức sống cư dân nâng cao.
Chương 4: Đặc điểm, vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ và một số bàn luận
- Đặc điểm tín ngưỡng:
- Nguyễn Trung Trực là vị nhân thần tiêu biểu: Được nhân dân tự giác tôn vinh, phong thần từ lòng kính ngưỡng đạo lý (sinh vi tướng, tử vi thần) dù không phụ thuộc vào sắc phong của triều đình phong kiến.
- Mang đậm yếu tố văn hóa sông nước: Phân bố dọc theo các trục đường thủy, tập trung mật độ cao tại vùng Nam sông Hậu.
- Xu hướng lan tỏa và tích hợp tôn giáo: Tín ngưỡng không ngừng mở rộng, tích hợp vào các hệ phái tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa (lấy ân đất nước làm trọng) và Phật giáo Hòa Hảo (tôn kính ông như vị Quan Thượng đẳng đại thần).
- Vai trò trong đời sống văn hóa:
- Đáp ứng nhu cầu tâm linh, tinh thần của cộng đồng cư dân.
- Đáp ứng các nhu cầu phái sinh thông qua các hoạt động thiện nguyện quy mô lớn: phục vụ ăn uống cơm chay miễn phí cho hàng chục vạn người hành hương, các phòng thuốc nam châm cứu trị bệnh miễn phí tại các cơ sở đình thờ, hỗ trợ an sinh xã hội.
- Thúc đẩy phát triển dịch vụ, kinh tế du lịch văn hóa tâm linh tại địa phương.
- Giá trị văn hóa: Giá trị cố kết cộng đồng liên làng, liên vùng; giá trị lịch sử ghi nhớ công lao đánh giặc cứu nước; giá trị giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và giáo dục đạo đức nhân cách.
- Bàn luận và giải pháp: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích và lễ hội, bảo tồn không gian thiêng, quản lý vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và phát huy nguồn lực thiện nguyện tự giác của quần chúng nhân dân.
Bảng tổng hợp các dữ liệu khảo sát chính trong luận án
| Tiêu chí |
Nội dung / Số liệu trích xuất từ luận án |
| Quy mô khảo sát di tích |
37 cơ sở, đình thờ Nguyễn Trung Trực trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ |
| Mẫu điều tra xã hội học |
330 phiếu khảo sát, xử lý bằng phần mềm SPSS |
| Địa bàn phân bố trọng điểm |
Long An, Kiên Giang, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Trà Vinh |
| Đặc trưng lễ vật bàn thờ chính |
Cúng đồ chay hoàn toàn kèm hoa quả, trà rượu; đồ mặn chỉ cúng bàn binh gia |
| Hình thức tích hợp tôn giáo |
Tích hợp vào giáo lý Tứ Ân của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo |
| Hoạt động xã hội phái sinh |
Bốc thuốc nam miễn phí, đãi cơm chay từ thiện, cung cấp chỗ nghỉ miễn phí cho khách hành hương |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên thống kê, hệ thống hóa toàn diện mạng lưới 37 cơ sở thờ tự Nguyễn Trung Trực trên toàn cõi Nam Bộ, đi kèm việc khảo cứu chi tiết về không gian thờ tự, nghi thức tế lễ và cấu trúc lễ hội.
- Vận dụng đồng bộ ba lý thuyết (cấu trúc - chức năng, biến đổi văn hóa, vùng văn hóa) để nhận diện đặc điểm của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trong tương quan so sánh với các vị anh hùng kháng Pháp khác cùng thời.
- Làm sáng tỏ cơ chế thiêng hóa một nhân vật lịch sử thành nhân thần và tiến trình tích hợp văn hóa giữa tín ngưỡng dân gian với các hệ phái tôn giáo bản địa ở Nam Bộ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Làm rõ diện mạo, vai trò của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực tại khu vực miền Nam sông Hậu (Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang, Trà Vinh), địa bàn vốn chưa được các công trình trước đây khảo cứu đầy đủ.
- Nhận diện các xu hướng biến đổi thực tế của lễ hội và cơ sở thờ tự trong bối cảnh đương đại; chỉ ra mô hình sinh hoạt thiện nguyện (khám chữa bệnh miễn phí, bếp ăn từ thiện) như một giá trị nhân văn đặc thù của cộng đồng cư dân Nam Bộ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khoa học và thực tiễn hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước và ban quản trị di tích trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa lễ hội Nguyễn Trung Trực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chưa tiếp cận được trực tiếp văn bản gốc bằng tiếng Pháp của các tài liệu khảo cung (như ghi chép của Alfred Scheiner, Paulin Vial) mà phải thông qua các bản dịch tiếng Việt đã công bố; nguồn tư liệu về một số điểm thờ cúng quy mô nhỏ tại hộ gia đình hoặc xóm ấp vùng sâu còn phân tán trong trí nhớ dân gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình phụng thờ nhân thần kháng Pháp giữa các vùng văn hóa trên toàn quốc; khảo sát sâu hơn sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trong cộng đồng người Nam Bộ di cư ra các địa phương khác hoặc sinh sống tại nước ngoài.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các ngành Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học, Tôn giáo học trong việc nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, phương pháp nghiên cứu liên ngành và kỹ thuật xử lý dữ liệu điền dã kết hợp SPSS.
- Đối với công tác quản lý văn hóa: Cung cấp cứ liệu khoa học thực chứng cho các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Nam Bộ, Phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện và ban quản lý các di tích đình đền trong việc quy hoạch bảo tồn di tích, tổ chức lễ hội an toàn, phát huy các giá trị gắn kết cộng đồng và quản lý hoạt động từ thiện xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu cơ sở thờ tự Nguyễn Trung Trực và tập trung ở những địa bàn nào?
Luận án đã thống kê và khảo sát thực tế 37 cơ sở, đình thờ Nguyễn Trung Trực phân bố khắp các tỉnh Nam Bộ, tiêu biểu tại Long An, Kiên Giang và mở rộng nghiên cứu sâu tại các tỉnh miền Nam sông Hậu gồm An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và Trà Vinh.
2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học và công cụ phân tích dữ liệu của luận án là gì?
Tác giả đã triển khai điều tra xã hội học với quy mô 330 phiếu khảo sát tại các cơ sở thờ tự và lễ hội, sau đó nhập và xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS.
3. Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực có điểm gì khác biệt so với việc thờ các anh hùng kháng Pháp cùng thời như Trương Định hay Thủ Khoa Huân?
Trong khi Trương Định hay Thủ Khoa Huân chủ yếu được thờ phụng tại nơi dấy nghiệp (như Tiền Giang), thì Nguyễn Trung Trực được nhân dân tôn kính lập đền, đình thờ phụng khắp toàn cõi Nam Bộ, từ đền, đình, chùa đến bàn thờ vọng tại gia, đồng thời được tích hợp sâu sắc vào các tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo.
4. Quy tắc dâng lễ vật tại bàn thờ chính ở các đình thờ Nguyễn Trung Trực có điểm gì đặc thù?
Dù được tổ chức ở địa phương nào và vào thời gian nào, lễ vật dâng cúng tại bàn thờ chính của Nguyễn Trung Trực luôn là đồ chay thanh tịnh kết hợp cùng hoa quả, trà rượu; các món lễ mặn (như heo, gà) chỉ được bày cúng ở bàn ngoài dành cho binh gia.
5. Hoạt động phái sinh mang tính xã hội nổi bật nào diễn ra tại các cơ sở thờ Nguyễn Trung Trực?
Đó là các hoạt động thiện nguyện phục vụ dân sinh quy mô lớn gắn liền với các đình thờ, bao gồm: tổ chức các phòng thuốc nam châm cứu và bốc thuốc miễn phí cho người bệnh, phục vụ các bếp ăn cơm chay và nước uống miễn phí cho hàng chục vạn khách hành hương trong dịp lễ giỗ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Hoàng Khải đã hệ thống hóa diện mạo tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực qua khảo sát 37 cơ sở thờ tự trên địa bàn Nam Bộ. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết cấu trúc - chức năng, biến đổi văn hóa và vùng văn hóa, công trình làm sáng tỏ tiến trình chuyển hóa từ nhân vật lịch sử sang nhân thần tín ngưỡng và sự tích hợp vào các tôn giáo bản địa. Luận án khẳng định vai trò của tín ngưỡng trong việc đáp ứng nhu cầu tâm linh, cố kết cộng đồng và thúc đẩy các hoạt động an sinh thiện nguyện tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho công tác bảo tồn di sản và quản lý văn hóa lễ hội ở khu vực Nam Bộ.