Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (Mã ngành: 9229040) với đề tài "Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Trần Văn Thành ở tỉnh An Giang" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Phương thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Chí Bền.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" là nét tâm thức văn hóa của người Việt, được hun đúc qua các giai đoạn khẩn hoang lập ấp và đấu tranh bảo vệ lãnh thổ tại vùng đất Tây Nam Bộ. Tại An Giang, Quản cơ Trần Văn Thành là nhân vật lịch sử có công lớn trong việc chiêu dân khai hoang, xây dựng xóm làng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa – Láng Linh (1867–1873) chống thực dân Pháp. Ông đồng thời là một thủ lĩnh của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Sau khi ông hy sinh, nhân dân tôn vinh ông là Đức Cố Quản và thực hành tín ngưỡng thờ phụng suốt 150 năm qua. Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành tại xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 235/VH-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận nhân vật Trần Văn Thành dưới góc độ lịch sử sự kiện, phong trào kháng Pháp hoặc địa chí địa phương. Thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc nhìn Văn hóa học về hệ thống thành tố tín ngưỡng, cơ chế thiêng hóa qua truyền thuyết dân gian, đặc điểm thực hành lễ hội, sự dung hợp tôn giáo bản địa và sự so sánh đồng đại với tín ngưỡng thờ các danh nhân lịch sử khác trên cùng địa bàn tỉnh An Giang.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ nguồn gốc, đặc điểm, vai trò, giá trị văn hóa và sự đóng góp của tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành trong mối tương quan với các tín ngưỡng, tôn giáo khác ở tỉnh An Giang.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
    1. Làm rõ hệ thống khái niệm công cụ, ứng dụng các lý thuyết tiếp cận văn hóa và khái quát bối cảnh địa văn hóa – cư dân An Giang.
    2. Khảo sát hiện trạng vận hành tín ngưỡng: quá trình thiêng hóa Trần Văn Thành qua truyền thuyết, cơ sở thờ tự, đặc điểm nghi lễ và cách thức tổ chức lễ hội của cư dân địa phương.
    3. Phân tích, đánh giá hiện trạng và so sánh tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành với tín ngưỡng thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu và Nguyễn Trung Trực tại An Giang.
    4. Luận giải vai trò và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân An Giang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành thể hiện qua đặc điểm nghi lễ, không gian thờ tự và cách thức vận hành tín ngưỡng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân tỉnh An Giang.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian địa lý và tư liệu: Nam Bộ, Tây Nam Bộ và trọng tâm là tỉnh An Giang.
    • Địa bàn khảo sát thực địa: Hai cơ sở thờ tự chính gồm Đền thờ Trần Văn Thành (xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú) và Dinh Sơn Trung (xã Vĩnh An, huyện Châu Thành). Mở rộng nghiên cứu các điểm phối thờ: Dinh Ông Thẻ (xã Cần Đăng, huyện Châu Thành), đình làng Vĩnh Thạnh Trung (huyện Châu Phú) và đình phường Vĩnh Tế (thành phố Châu Đốc).
    • Thời gian nghiên cứu: Trọng tâm từ năm 2014 (thời điểm tổ chức Hội thảo khoa học "Nhân vật lịch sử Trần Văn Thành", dẫn đến việc xây dựng tượng đài năm 2015) đến nay, gắn với tầm nhìn phát triển văn hóa – xã hội của địa phương đến năm 2030; kết hợp phương pháp lịch đại tái hiện tiến trình 150 năm hình thành và vận hành tín ngưỡng (1873–2023).
    • Phạm vi tài liệu: Nguồn tài liệu thứ cấp đã công bố, tài liệu lưu hành nội bộ tại các cơ sở thờ tự và tư liệu điền dã thực tế.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    • Câu hỏi 1: Tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành ra đời khi nào, ở đâu và diễn biến như thế nào?
    • Câu hỏi 2: Các thành tố của tín ngưỡng Trần Văn Thành biểu hiện như thế nào và có vai trò gì đối với đời sống tinh thần của người dân An Giang?
    • Câu hỏi 3: Tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử Trần Văn Thành có gì khác với tín ngưỡng thờ các nhân vật lịch sử: Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực ở An Giang?
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại và Trần Văn Thành hy sinh, nhân dân An Giang đã lập đền thờ và thiêng hóa một nhân vật lịch sử thành một đối tượng phụng thờ tín ngưỡng dân gian bền vững trong suốt 150 năm qua.
    • Giả thuyết 2: Các thành tố văn hóa vật thể (đền, dinh, ghe Sáu Bổ) và văn hóa phi vật thể (truyền thuyết, nghi lễ, niềm tin, mối quan hệ với đạo Bửu Sơn Kỳ Hương) quy định hành vi và khẳng định vai trò của tín ngưỡng đối với đời sống cư dân.
    • Giả thuyết 3: Tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành cùng lan tỏa song hành với tín ngưỡng thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực, nhưng mang nét đặc thù gắn liền với tôn giáo bản địa Bửu Sơn Kỳ Hương do Trần Văn Thành là người tiếp quản đạo từ Đoàn Minh Huyên.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm công trình chính:

1. Nhóm công trình về lịch sử, văn hóa và con người Nam Bộ

  • Đồng bằng sông Cửu Long (1981) của Phan Quang: Khắc họa vùng đất sinh thái đa dạng, quá trình khai phá gian nan và 5 nét tính cách đặc trưng của con người Tây Nam Bộ.
  • Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1994) của Sơn Nam: Trình bày quá trình lao động, cải tạo tự nhiên, xây dựng làng xóm và sự cộng cư giữa các dân tộc.
  • Văn hóa dân gian Nam Bộ – Những phác thảo (1997) của Nguyễn Phương Thảo: Phân tích làng Việt Nam Bộ, lễ hội dân gian và sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa (Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa).
  • Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX (2000) của Huỳnh Lứa: Khẳng định tính đa tầng của văn hóa phương Nam qua sự tích hợp Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo.
  • Dấu xưa Nam Bộ (2006) của Hồng Hạnh: Ghi chép điền dã về phong tục và tính cách cư dân.
  • Tính cách văn hóa Nam Bộ như một hệ thống (2013) và Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (2014) do Trần Ngọc Thêm chủ biên: Xác lập cấu trúc văn hóa, nhận diện hệ thống tính cách người Việt Tây Nam Bộ (như tính trọng nghĩa, tính năng động).
  • Nam Bộ – Vài nét lịch sử văn hóa (Tập I năm 2014, Tập II năm 2016) của Trần Thuận và Nam Bộ Đất và Người (Tập XI năm 2016) do Võ Văn Sen chủ biên: Phân tích sự tích hợp giữa văn hóa Đại Việt với văn hóa bản địa.

2. Nhóm công trình về tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội Nam Bộ

  • Người Việt Nam Bộ từ góc nhìn tôn giáo (2009) của Phan An: Nhận định về tính dung nạp nhiều hình thái tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân phương Nam.
  • Đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ (2010) do Ngô Văn Lệ chủ nhiệm.
  • Tín ngưỡng tôn giáo và thực hiện chính sách tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay (2013) của Nguyễn Minh Khải.
  • Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan (2015) của Phạm Minh Thảo và Phạm Lan Oanh: Phân định ranh giới giữa niềm tin tâm linh và mê tín dị đoan.
  • Tín ngưỡng thờ ông Địa – ông Tà của người Việt ở An Giang (2017) của Mai Thị Minh Thuy: Khảo sát mạng lưới tín ngưỡng đa dạng và vị trí của các "ông Đạo" ở An Giang.
  • Các bài viết của Phạm Lan Oanh (2020, 2021) trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật và Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực về tưởng niệm các nhân vật lịch sử Nam Bộ (Võ Duy Dương, Nguyễn Tấn Kiều).

3. Nhóm công trình về tỉnh An Giang và nhân vật lịch sử Trần Văn Thành

  • Đức Cố Quản hay là cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1956) của Nguyễn Văn Hầu: Tác phẩm khảo cứu lịch sử đầu tiên về thân thế Trần Văn Thành và căn cứ Bảy Thưa.
  • Lịch sử địa phương An Giang (2009) của Phan Văn Kiến và Võ Thành Phương.
  • Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ (Luận án Tiến sĩ năm 2020) của Võ Hoàng Khải.
  • Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ 1858–1918 (2011) của Võ Phúc Châu: Khảo cứu các giai thoại dân gian thiêng hóa nhân vật lịch sử.
  • Di tích lịch sử – Văn hóa An Giang (2012) do Bảo tàng tỉnh An Giang biên soạn.
  • Nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Quyển 2 – 2013) của Vũ Thanh Sơn; Những vùng địa linh nhân kiệt – miền Nam (2014); Tìm hiểu đất Hậu Giang & lịch sử đất An Giang (2015) của Sơn Nam.
  • Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Nhân vật lịch sử Trần Văn Thành" (2014) do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang và Huyện ủy Châu Phú tổ chức với 32 bài tham luận chia thành 4 nhóm nội dung.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra rằng các công trình đi trước chưa làm rõ quá trình thiêng hóa Trần Văn Thành từ góc độ văn hóa học; thiếu vắng các khảo cứu chi tiết về không gian thiêng, cơ sở thờ tự, quy trình lễ hội và mối liên hệ thực hành với hệ thống đạo Bửu Sơn Kỳ Hương; đồng thời chưa tiến hành so sánh hệ thống nghi lễ của tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành với các danh nhân lịch sử khác tại An Giang.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm công cụ và lý thuyết sử dụng

  • Hệ thống khái niệm công cụ:
    • Tín ngưỡng: Tiếp cận theo định nghĩa của Ngô Đức Thịnh (2001) – niềm tin của con người vào cái thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên đối lập với cái trần tục; kết hợp định nghĩa pháp lý theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) và quan niệm của Mullen.
    • Tín ngưỡng dân gian: Tiếp cận theo Nguyễn Đức Lữ (2005) và Đặng Minh Châu (2016), xác định đây là sản phẩm sáng tạo văn hóa tâm linh của quần chúng lao động.
    • Lễ hội: Định nghĩa theo Ngô Đức Thịnh (2007) và Nghị định 110/2018/NĐ-CP, xem lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể gồm phần lễ và phần hội theo chu kỳ thời gian.
    • Anh hùng dân tộc: Phân tích theo nghĩa hẹp (người có công kiệt xuất trong kháng chiến chống ngoại xâm) và nghĩa rộng (người có đóng góp to lớn cho sự phát triển đất nước).
  • Khung lý thuyết vận dụng:
    • Lý thuyết Cấu trúc – Chức năng: Xem xét tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành như một chỉnh thể văn hóa gồm các yếu tố cấu thành (nhân vật phụng thờ, cơ sở thờ tự, nghi lễ, truyền thuyết, cộng đồng thực hành) và các chức năng văn hóa – xã hội tương ứng.
    • Lý thuyết Vùng văn hóa: Đặt tín ngưỡng trong không gian văn hóa Tây Nam Bộ và tiểu vùng bán sơn địa An Giang.
    • Quan điểm về quá trình thiêng hóa của Nguyễn Chí Bền: Vận dụng mô hình 3 biện pháp làm cho nhân vật phụng thờ trở nên thiêng liêng: huyền thoại hóa, lịch sử hóa và địa phương hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thực hiện tiếp cận liên ngành (Văn hóa học, Sử học, Văn hóa dân gian, Tôn giáo học, Xã hội học) và sử dụng các phương pháp cụ thể:

  1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân loại, chắt lọc tư liệu lịch sử, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo để xây dựng cơ sở lý luận.
  2. Phương pháp nghiên cứu xã hội học:
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn cán bộ quản lý văn hóa, ban quản lý di tích, các vị thủ từ, người cao niên, người dân địa phương và du khách tham dự lễ hội theo phiếu hỏi và mẫu biên bản.
    • Quan sát tham dự: Trực tiếp điền dã, tham dự quy trình tổ chức lễ hội và các nghi thức tế tự tại Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, Dinh Sơn Trung và Dinh Ông Thẻ; tiến hành ghi chép, chụp ảnh, quay phim tư liệu thực địa.
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh đồng đại các yếu tố cấu trúc, không gian thờ tự và nghi thức thực hành giữa tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành với tín ngưỡng thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực tại tỉnh An Giang.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tư liệu thành văn: Thư tịch, địa chí, kỷ yếu hội thảo năm 2014, các ấn phẩm nghiên cứu văn hóa – lịch sử Nam Bộ.
  • Tư liệu thực địa: Tài liệu lưu hành nội bộ tại các đền, dinh; biên bản phỏng vấn sâu nhân chứng; hình ảnh khảo sát hiện vật (ghe Sáu Bổ, sắc phong, bài vị, hoành phi, câu đối, đồ tự khí).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu, khái lược đất - người An Giang và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu, phác thảo bối cảnh địa văn hóa An Giang và xác lập khung lý thuyết cho đề tài:

  • Tổng quan tài liệu: Trình bày 3 nhóm công trình về lịch sử - văn hóa Nam Bộ, tín ngưỡng - tôn giáo Nam Bộ, và các công trình về An Giang cùng nhân vật Trần Văn Thành.
  • Khái lược đất và người An Giang:
    • Vùng đất: An Giang nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, diện tích tự nhiên 3.536,76 km² (đứng thứ 4/13 tỉnh Tây Nam Bộ), dân số khoảng 2 triệu người (đứng đầu Tây Nam Bộ đến năm 2023). Có đường biên giới phía Bắc dài gần 104 km. Năm 1834, vua Minh Mạng chia Nam Kỳ thành Lục tỉnh (trong đó có An Giang). Địa hình bán sơn địa phức hợp: đồng bằng, bưng biền trũng, mạng lưới sông ngòi tự nhiên (sông Tiền, sông Hậu) và kinh đào Vĩnh Tế (đào từ 1819–1824, dài 87,340 km, rộng 30 m). Nguồn tài nguyên đa dạng với 37 loại đất, sản lượng lúa trên 2 triệu tấn/năm, nhiều khoáng sản (đá granit, kaolin, puzolan, fenspat, bentonite).
    • Con người: Cư dân gồm 4 tộc người sống đồng cư cộng cảm hơn 300 năm: người Việt (95%), người Khmer (3,8%), người Hoa (0,6%), người Chăm (0,6%). Người dân có đặc trưng tính cách bộc trực, trọng nghĩa khinh tài. Môi trường tự nhiên khắc nghiệt và lịch sử khẩn hoang tạo nên bức tranh tôn giáo – tín ngưỡng phong phú nhất khu vực (thờ Thành hoàng, Sơn thần, Bà Chúa Xứ, gia tiên, danh nhân lịch sử; sự hiện diện của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo và các tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Huỳnh Đạo, Cao Đài).
  • Cơ sở lý luận: Xác lập định nghĩa các khái niệm Tín ngưỡng, Tín ngưỡng dân gian, Lễ hội, Anh hùng dân tộc; xây dựng Bảng 1.1 về khung lý thuyết của luận án (Cấu trúc – chức năng, Vùng văn hóa, Cơ chế thiêng hóa).

Chương 2: Các thành tố của tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành

Chương 2 đi sâu khảo tả các thành tố cấu thành tín ngưỡng từ chân dung lịch sử, quá trình thiêng hóa đến cơ sở thờ tự và lễ hội:

  • Chân dung Anh hùng dân tộc Trần Văn Thành:
    • Trần Văn Thành sinh vào cuối triều Gia Long tại làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Châu Phú. Ông giữ chức Quản cơ quân đội triều Nguyễn. Năm 1867, khi quân Pháp chiếm thành An Giang, ông cùng gia đình (vợ là bà Nguyễn Thị Thạnh, các con Trần Văn Nhu, Trần Văn Chái) và nghĩa quân rút về vùng rừng trũng Bảy Thưa – Láng Linh lập căn cứ kháng chiến lâu dài.
    • Ông thành lập đội binh Gia Nghị với quân số lên tới 1.200 người, xây dựng xưởng chế tạo vũ khí thủ công (súng điểu thương, súng thần công, hỏa hổ, đao kiếm), thiết lập căn cứ chính tại Hưng Trung Doanh và các tuyến đồn Hờ xung quanh (mỗi đồn bố trí 150 quân).
    • Tháng 6/1872, quân Pháp tiến công Bảy Thưa nhưng thất bại. Đầu năm 1873, Pháp cử Tôn Thọ Tường đưa thư dụ hàng nhưng ông cự tuyệt. Tháng 3/1873, Pháp huy động đại úy Gayen, Puech cùng Tri huyện Trần Bá Tường mở cuộc tổng tấn công. Ngày 19–20/3/1873 (tức ngày 21–22 tháng 2 âm lịch năm Quý Dậu), đồn Hưng Trung bị vây hãm ác liệt, Trần Văn Thành chỉ huy chiến đấu và hy sinh anh dũng. Nhân dân tôn kính gọi ông là Đức Cố Quản.
  • Các truyền thuyết thiêng hóa (Quá trình Huyền thoại hóa – Lịch sử hóa – Địa phương hóa):
    • Truyền thuyết ghe Sáu Bổ: Ghe làm bằng gỗ sao, dài hơn 10 m, rộng 2 m, có 6 bổ chèo và buồng chỉ huy. Tương truyền ghe nguyên của ông Sãi Xà Lam (người Khmer ở Tam Giang); sau 3 lần "thư" phép không hại được Trần Văn Thành, ông Sãi bái phục và hiến tặng ghe để đánh giặc. Ghe có khả năng chống đạn. Dân gian truyền tụng bánh lái ghe vạt ra nấu nước uống chữa lành bệnh tật. Hiện vật ghe Sáu Bổ được lưu giữ và thờ tự tại Bửu Hương Tự với tục lệ 5 năm cho ghe uống dầu một lần (phải xin keo trước khi thực hiện).
    • Truyền thuyết xây dựng Dinh Sơn Trung: Năm 1939, ông Lê Quốc Lập đưa dân đi khai hoang tại làng Vĩnh Hanh (nay thuộc xã Vĩnh An, huyện Châu Thành), trâu bò đến gò cao bỗng dừng lại không chịu đi. Được người già chỉ dẫn đây là căn cứ cũ của Đức Cố Quản, ông Lập lập bàn hương án cầu khấn xin lập nghiệp thuận lợi. Năm 1940, ông dựng miếu cây lá thờ Trần Văn Thành (cúng vào 21–22/2 âm lịch) và hiến đất xây dựng nên Dinh Sơn Trung.
    • Truyền thuyết xây dựng Đền thờ Trần Văn Thành và tìm Thẻ số 4: Mùa thu năm 1997 (25–26/8 âm lịch), đoàn 11 người do chú Bảy Hồ Văn Quận (Hội Đông y xã Bình Thủy) tổ chức đi tìm di tích cây Thẻ số 4 tại vùng rừng tràm Hà Tiên. Đoàn được anh Ba Tho chỉ đường đến Gò Cát, có đôi chim lớn bay dẫn hướng; tại đây gặp anh Hòa tặng hũ tiền cổ "Thái Bình Thông Bảo" và anh Tám Tăng tặng thanh gươm cổ rỉ sét. Sau khi được Trung đoàn trưởng Trương Thanh Hồng và vợ chồng chú Bảy On hiến đất, miếu thờ được dựng (kích thước 50 m x 2 m) và đến năm 2016 được trùng tu thành đền thờ khang trang.
    • Truyền thuyết về sự hy sinh bất tử: Các giai thoại về việc Trần Văn Thành mặc áo trần điều sẫm màu, cắt tóc phân phát cho binh sĩ trước trận đánh cuối cùng; niềm tin của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương rằng ông có phép ẩn thân, không chết mà đã quy tiên.
  • Hệ thống cơ sở thờ tự:
    • Đền thờ Trần Văn Thành (Bửu Hương Tự): Nằm tại ấp Long Châu 1, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú. Tiền thân do bà Nguyễn Thị Thạnh và con trai trưởng Trần Văn Nhu (ông Hai Nhà Láng, 1847–1914) xây dựng từ năm 1897, hoàn thành năm 1903. Đền từng bị quân Pháp đốt phá vào các năm 1913 và 1948, được nhân dân trùng tu lại vào các năm 1938, 1952 và tôn tạo lớn sau này. Đền có khuôn viên rộng, kiến trúc cổ kính, có bài vị thờ Quản cơ Trần Văn Thành, mộ phần thân tộc và nơi lưu giữ ghe Sáu Bổ.
    • Dinh Sơn Trung: Tại xã Vĩnh An, huyện Châu Thành.
    • Hệ thống Dinh Ông Thẻ và các điểm phối thờ: Dinh Ông Thẻ tại xã Cần Đăng (Châu Thành), phối thờ tại đình Vĩnh Thạnh Trung (Châu Phú) và đình Vĩnh Tế (thành phố Châu Đốc).
  • Lễ hội Trần Văn Thành: Tổ chức định kỳ hàng năm vào ngày 21 và 22 tháng 2 âm lịch tại Đền thờ Trần Văn Thành (Thạnh Mỹ Tây), Dinh Sơn Trung và các Dinh Ông Thẻ. Quy trình gồm công tác chuẩn bị của Ban Quản trị và nhân dân (dọn dẹp, nấu cúng chay phục vụ khách hành hương), phần lễ trang nghiêm (lễ thỉnh sắc, tế tự, dâng hương hoa phẩm vật) và các hoạt động hội dân gian.

Chương 3: Bàn luận về tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành ở tỉnh An Giang

Chương 3 tập trung so sánh loại hình, phân tích tính dung hợp tôn giáo và đánh giá vai trò của tín ngưỡng:

                  TÍN NGƯỠNG THỜ TRẦN VĂN THÀNH
[SO SÁNH LOẠI HÌNH]      [DUNG HỢP TÔN GIÁO]      [VAI TRÒ XÃ HỘI]
- Tương đồng & dị biệt   - Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương   - Xây dựng niềm tin
- Nguyễn Hữu Cảnh        - Đạo & Đời              - Giáo dục yêu nước
- Thoại Ngọc Hầu         - Học Phật - Tu Nhân     - Đoàn kết cộng đồng
- Nguyễn Trung Trực      - Đạo lý Tứ Ân           - Bảo tồn văn hóa
  • So sánh với tín ngưỡng thờ các nhân vật lịch sử khác tại An Giang:
Tiêu chí Tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành Tín ngưỡng thờ Nguyễn Hữu Cảnh / Thoại Ngọc Hầu Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực
Bản chất nhân vật Thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa chống Pháp; đại đệ tử Bửu Sơn Kỳ Hương Danh tướng, quan đại thần triều đình có công khai hoang, mở cõi, đào kinh Anh hùng nghĩa quân chống Pháp (đốt tàu L'Espérance, chiếm đồn Kiên Giang)
Không gian thờ tự Đền thờ riêng, hệ thống Dinh thờ, Dinh Ông Thẻ, chùa Bửu Hương Tự Đình làng Nam Bộ, Lăng Thoại Ngọc Hầu (Núi Sam) Đình thần, Đền thờ riêng
Màu sắc tôn giáo Dung hợp chặt chẽ với giáo lý và biểu tượng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Mang tính chất nghi lễ cung đình, Nhà nước phong kiến sắc phong Tín ngưỡng nhân thần thuần túy gắn với đình làng Nam Bộ
Lễ vật dâng cúng Chủ yếu dâng cúng chay, hương hoa, trà quả, bánh truyền thống Cúng tam sinh (heo, bò, gà), cỗ mặn theo nghi thức đình thần Cúng chay hoặc cúng mặn tùy từng cơ sở đình miễu
Thời gian lễ hội Ngày 21–22 tháng 2 âm lịch Theo lệ kỳ yên đình làng hoặc ngày giỗ của danh nhân Ngày 26–28 tháng 8 âm lịch
  • Sự dung hợp đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành:
    • Dung hợp quan niệm Đạo và Đời: Trần Văn Thành vừa thực hiện sứ mệnh của một tướng lĩnh cứu quốc (Đời), vừa là đệ tử đắc pháp của Phật Thầy Tây An thực hành tôn giáo (Đạo). Tín ngưỡng thể hiện phương châm "tốt đời đẹp đạo".
    • Dung hợp quan niệm Học Phật – Tu Nhân: Đơn giản hóa nghi thức thờ cúng (không cầu kỳ tượng cốt, sử dụng tấm vải đỏ Trần điều làm biểu tượng vô vi), hướng con người tu tập đạo đức thực tiễn giữa đời thường.
    • Dung hợp giáo lý Tứ đại trọng ân (Tứ ân):
      1. Ân tổ tiên cha mẹ: Hiếu kính gia đình, ghi nhớ công lao tiền nhân.
      2. Ân đất nước: Tinh thần xả thân chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
      3. Ân Tam bảo: Tôn kính Phật, Pháp, Tăng và các bậc tiền bối khai sáng.
      4. Ân đồng bào nhân loại: Tương trợ giúp đỡ người nghèo, cứu tế bần nông, cộng cư hòa hiếu giữa các tộc người.
  • Vai trò của tín ngưỡng đối với cư dân An Giang:
    1. Xây dựng niềm tin và điều chỉnh hành vi đạo đức: Tạo điểm tựa tâm linh, răn dạy con người hướng thiện, tránh xa tệ nạn và sống lương thiện.
    2. Giáo dục tinh thần yêu nước: Tôn vinh khí phách kiên cường chống giặc của Binh Gia Nghị, khơi dậy niềm tự hào lịch sử cho thế hệ trẻ.
    3. Củng cố sự đoàn kết cộng đồng: Liên kết 4 dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm thông qua các hoạt động tương trợ thiện nguyện, phục vụ ăn uống miễn phí trong mùa lễ hội.
    4. Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và phát triển du lịch: Bảo tồn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và đóng góp vào mạng lưới du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh An Giang.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ nguồn gốc, tiến trình vận động cùng các thành tố cấu thành của tín ngưỡng thờ nhân thần Trần Văn Thành dưới lăng kính Văn hóa học liên ngành.
  • Ứng dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng, lý thuyết vùng văn hóa và lý thuyết thiêng hóa để lý giải quá trình chuyển hóa một nhân vật lịch sử thời cận đại thành một biểu tượng tín ngưỡng dân gian đặc thù vùng Tây Nam Bộ.
  • Xác lập mô hình dung hợp giữa tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc với tôn giáo bản địa (đạo Bửu Sơn Kỳ Hương) thông qua giáo lý Tứ ân và quan niệm Học Phật – Tu Nhân.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo tả chi tiết và cung cấp hệ thống dữ liệu thực địa về các cơ sở thờ tự (Đền thờ Trần Văn Thành tại Châu Phú, Dinh Sơn Trung tại Châu Thành, Dinh Ông Thẻ), các hiện vật thiêng (ghe Sáu Bổ) và quy trình thực hành lễ hội ngày 21–22/2 âm lịch.
  • Tập hợp và phân loại các truyền thuyết dân gian xoay quanh nhân vật Trần Văn Thành, làm rõ vai trò của tri thức bản địa trong việc bảo lưu ký ức lịch sử.
  • Cung cấp nguồn tư liệu khoa học xác thực cho các cơ quan quản lý văn hóa, chính quyền địa phương tỉnh An Giang trong việc bảo tồn, trùng tu di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, cũng như định hướng khai thác du lịch văn hóa tâm linh bền vững đến năm 2030.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở tín ngưỡng, bảo đảm giữ gìn tính trang nghiêm và vệ sinh môi trường trong mùa lễ hội.
  • Bảo tồn nguyên trạng các hiện vật quý (ghe Sáu Bổ, sắc phong, văn bia, di vật khai quật từ căn cứ Bảy Thưa).
  • Gắn kết không gian di tích Đền thờ Trần Văn Thành với các tuyến du lịch văn hóa – sinh thái vùng Láng Linh – Bảy Thưa và Tứ giác Long Xuyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Nguồn sử liệu thành văn đương thời (thế kỷ XIX) ghi chép về cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa và nhân vật Trần Văn Thành còn hạn chế và phân tán, nhiều chi tiết lịch sử (như ngày giờ mất chính xác, nơi an táng thi thể) chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền thuyết dân gian và dã sử.
  • Khảo sát thực địa tập trung trọng điểm trên địa bàn tỉnh An Giang (huyện Châu Phú, huyện Châu Thành), chưa mở rộng khảo sát toàn diện các điểm thờ phối tự phụ ở các tỉnh lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành và hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương sang các tỉnh thuộc Tây Nam Bộ như Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre.
  • Nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của các nghi thức thực hành tín ngưỡng và lễ hội truyền thống dưới tác động của quá trình đô thị hóa và thương mại hóa du lịch trong giai đoạn hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Học viên, nghiên cứu sinh, nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Dân tộc học và Văn học dân gian khi tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ và tín ngưỡng thờ danh nhân lịch sử.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Văn hóa Nam Bộ, Tín ngưỡng – Tôn giáo Việt Nam, Lịch sử địa phương An Giang.
  • Nhà quản lý văn hóa và hoạch định chính sách du lịch: Cán bộ ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong việc lập hồ sơ di sản, quy hoạch không gian lễ hội và xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh.
  • Các chương mục đáng tham khảo:
    • Chương 2: Giá trị tư liệu điền dã thực địa về truyền thuyết ghe Sáu Bổ, di tích Bửu Hương Tự và hồ sơ xây dựng Dinh Sơn Trung.
    • Chương 3: Giá trị học thuật trong bảng so sánh hệ thống nghi thức giữa 4 nhân vật lịch sử và luận giải cấu trúc dung hợp giáo lý Tứ ân của Bửu Sơn Kỳ Hương.

Câu hỏi thường gặp

1. Binh Gia Nghị là gì và có quy mô ra sao trong cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa?

Binh Gia Nghị là lực lượng nghĩa quân do Quản cơ Trần Văn Thành thành lập và chỉ huy trong cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa – Láng Linh (1867–1873). Quân số của binh Gia Nghị lên tới khoảng 1.200 người, chủ yếu là nông dân yêu nước và tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương từ khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Nghĩa quân được trang bị súng điểu thương, súng thần công, hỏa hổ, đao kiếm chế tạo từ xưởng đúc vũ khí thô sơ tại Bảy Thưa và tác chiến theo lối đánh du kích, phòng thủ tại các đồn Hờ (mỗi đồn khoảng 150 người) xung quanh căn cứ chính Hưng Trung Doanh.

2. Truyền thuyết ghe Sáu Bổ phản ánh điều gì trong quá trình thiêng hóa Trần Văn Thành?

Truyền thuyết ghe Sáu Bổ (ghe gỗ sao dài hơn 10 m, 6 bổ chèo do ông Sãi Xà Lam hiến tặng sau khi bái phục tài đức của Trần Văn Thành) phản ánh quá trình huyền thoại hóa và thiêng hóa nhân vật lịch sử. Chiếc ghe trở thành một "vật thiêng" che chở nghĩa quân tránh đạn giặc. Niềm tin dân gian cho rằng mạt gỗ vạt từ bánh lái ghe có thể nấu nước trị lành bệnh tật, và chiếc ghe có sự linh thiêng trừng phạt những ai bất kính hoặc vi phạm quy định khi quét dọn, lau dầu (phải xin keo trước khi thực hiện).

3. Tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành khác biệt cơ bản nhất với tín ngưỡng thờ Nguyễn Hữu Cảnh và Thoại Ngọc Hầu ở điểm nào?

Điểm khác biệt cơ bản nhất là tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành gắn bó mật thiết và dung hợp hữu cơ với tôn giáo bản địa Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Không gian thờ tự Trần Văn Thành không bài trí tượng cốt cầu kỳ mà dùng biểu tượng tấm vải đỏ Trần điều vô vi; thực hành cúng lễ chủ yếu dâng phẩm vật chay (hoa quả, trà nước, bánh tét chay), không tổ chức cúng tế tam sinh (heo, bò) hay lễ thức cung đình như nghi thức cúng Thành hoàng và danh nhân tại các đình làng thờ Nguyễn Hữu Cảnh và Thoại Ngọc Hầu.

4. Giáo lý Tứ đại trọng ân (Tứ ân) của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương được thể hiện như thế nào trong tín ngưỡng thờ Trần Văn Thành?

Giáo lý Tứ ân được tích hợp chặt chẽ: Ân đất nước thể hiện qua hành động xả thân kháng Pháp của Trần Văn Thành và nghĩa quân; Ân tổ tiên cha mẹ thể hiện qua đạo lý Uống nước nhớ nguồn và sự phụng dưỡng của gia đình nghĩa quân; Ân Tam bảo thể hiện qua việc gìn giữ giới luật Phật giáo giản dị; Ân đồng bào nhân loại thể hiện qua truyền thống cộng cư hòa hiếu, tinh thần tương thân tương ái phục vụ cơm nước, chỗ ở miễn phí cho nhân dân và khách thập phương trong mùa lễ hội hàng năm.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Văn Phương là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ Văn hóa học về tín ngưỡng thờ Anh hùng dân tộc Trần Văn Thành tại tỉnh An Giang. Luận án đã làm rõ tiến trình 150 năm thiêng hóa nhân vật lịch sử thời cận đại gắn liền với căn cứ Bảy Thưa và đạo Bửu Sơn Kỳ Hương thành biểu tượng tâm linh vững chắc của cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp khung phân tích lý luận về sự dung hợp giữa tín ngưỡng nhân thần và tôn giáo bản địa mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội địa phương.