Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm Chính sách công Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến. Có thể nêu ra một số quan niệm sau: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978).5] Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển [41, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.475] Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004).1-9] Tác giả Nguyễn Hữu Hải định nghĩa chính sách công có thể được nhìn nhận như sau: Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế. 16 Luan van Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.14] Tác giả Hồ Việt Hạnh đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [22, tr. Đây là khái niệm chung nhất liên quan đến chính sách công và tác giả luận văn đồng tình sử dụng khái niệm này.
Tác giả Nguyễn Khắc Bình đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định”. Khái niệm thực hiện chính sách công Tác giả Nguyễn Khắc Bình đã định nghĩa về thực hiện chính sách công như sau: Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Trong nghiên cứu này, người viết theo quan điểm của tác giả Nguyễn Khắc Bình để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Khái niệm Chính sách văn hóa Chính sách văn hóa là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật (UNESCO).
17 Luan van Chính sách văn hóa có các công cụ khác nhau, gồm: Luật pháp và các phương pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế, trong đó các bộ luật, luật, văn bản pháp quy; cách thức đầu tư từ ngân sách, hệ thống thuế là công cụ quan trọng nhất để điều hành sự phát triển văn hóa. Các chính sách văn hóa đều là các thực hành nhà nước dựa trên các nguồn lực về tài chính, vật lực và nhân lực, trong những điều kiện có thể có của thời điểm. Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này mà triển khai các hoạt động thực thi chính sách. Trong những hoàn cảnh của Việt Nam, khái niệm chính sách văn hóa đã được xác định dựa trên các quan niệm về văn hóa, về vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước, xây dựng con người mới của chế độ mới.
Trong bối cảnh nước ta, văn hóa được coi là một lĩnh vực của công tác tư tưởng, văn hóa là một mặt trận, bên cạnh các chức năng đặc thù khác về mặt thẩm mỹ, giải trí, tái tạo sáng tạo. Từ đặc điểm này, có thể định nghĩa về chính sách văn hóa: “Chính sách văn hóa là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn của đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội”. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một từ có nhiều cách hiểu, từ xưa đến nay, không chỉ ở nghĩa từ nguyên mà cho đến khi được các học giả định nghĩa.
Tác giả Phan Ngọc nhận định, hiện nay có không dưới 400 định nghĩa về văn hóa [Phan Ngọc (2019), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. Điều này chứng minh vai trò to lớn của văn hóa cũng như sự quan tâm của nhiều tổ chức, nhiều người về vấn đề gọi tên là văn hóa. Mỗi định nghĩa thể hiện quan điểm riêng của học giả về văn hóa. Theo tác giả Taylor định nghĩa: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật 18 Luan van pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[16, tr.
Trong “Thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa”, ông Phederico Mayor Laragoza nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này rất phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh nêu ra cách đó trên 40 năm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [ Nhật ký trong tù - HCM] Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và truyền lại cho thế hệ sau. Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
Từ đó Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” [ 7 ]. Từ những quan niệm về văn hóa, chúng ta thấy văn hóa có mặt trong toàn bộ đời sống của xã hội loài người. Mọi sự sáng tạo có giá trị của con người đều là văn hóa. Tuy nhiên cũng cần phải khu biệt khái niệm để công việc nghiên cứu văn hóa tránh sự trùng lặp với nhiều ngành khoa học khác.
Văn hóa, theo cách hiểu thông thường nhất, chính là bộ mặt tinh thần và vật chất của xã hội. Văn hóa làm nên diện mạo của dân tộc này so với dân tộc khác. Văn hóa phản ánh mọi mặt đời sống của một dân tộc. 19 Luan van Có thể nói, những quan niệm về văn hoá vừa rất linh hoạt vừa có nhiều nghĩa, nên khó có thể có được một định nghĩa cụ thể mà bao hàm đầy đủ ý nghĩa của nó.
Hơn thế nữa, văn hoá là kết quả của quá trình lao động và hoạt động xã hội của con người, nên đề cập đến vấn đề này, các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “văn hoá sản sinh ra trong quá trình con người tác động vào tự nhiên và tiến hành đấu tranh xã hội”. Từ những khái niệm đó, theo chúng tôi, văn hoá dùng để chỉ sự phản ánh tổng thể những năng lực bản chất của con người trong tất cả các dạng hoạt động, là tổng thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của mình. Văn hoá phi vật thể Văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Hoặc văn hóa vật thể và VHPVT.
VHPVT bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sáng tạo tinh thần của con người.