Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ XÃ DỊ CHẾ, HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa Khái quát chung về văn hóa Trong xã hội, văn hóa chính là những sản phẩm vật thể và phi vật thể mà con tạo ra. Chúng ta có thể phân loại như sau: Phi vật thể: Bao gồm những sản phẩm mà con người đã tạo dựng ra từ ngàn đời trước như: ngôn ngữ, tư tưởng, các hoạt động tinh thần như lễ hội, tôn giáo… Vật thể: Bao gồm những tài sản có thể nhìn thấy và định giá được như nhà cửa, trang phục, các phương tiện giao thông… Cả hai khía cạnh trên đều chính là sản phẩm của con người tạo ra và chúng đều là văn hóa.
Các định nghĩa của văn hóa Các nhà nghiên cứu văn hóa đã cho ra nhiều định nghĩa khác nhau vì họ đã trải qua những nghiên cứu và các cách tiếp cạnh khác nhau. Vì thế chúng ta có các dạng định nghĩa về văn hoá như sau: Trong cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở nước ta của Hoàng Vinh đã dẫn khái niệm “văn hóa” theo định nghĩa của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO F.Mayơ (Federio Mayor) vào năm 1999, nhân ngày lễ phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại, qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [12, tr. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Quốc Vượng chủ biên đã dẫn khái niệm văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau:“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, 7 Luan van những công việc cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [13, tr.
Như vậy, văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm mục đích thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Đề cương văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng khởi thảo và công bố năm 1943 xác định: “Văn hóa gồm tất cả tư tưởng, văn học, nghệ thuật. Văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị và văn hóa. Ba nguyên tắc vận động văn hóa nước Việt Nam giai đoạn hiện nay là dân tộc, khoa học, đại chúng” [4].
Đây là kim chỉ nam cho việc xây dựng văn hóa mới. Đời sống Đời sống là những hoạt động của con người, xã hội, đời sống văn hoá, đời sống tinh thần, tình trạng diễn ra trong cơ thể sinh vậtđời sống thực vật; sức khoẻ và đời sốnglối sống chung của một tập thể, một xã hộitoàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới 1. Đời sống văn hóa Thuật ngữ “đời sống văn hóa” xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong ngành văn hóa học vào những thập niên cuối thế kỷ XX. Ngày nay thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước, trong sách, báo, tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng.
Tuy nhiên, khái niệm “đời sống văn hóa” được sử dụng trong những hoàn cảnh khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những cách tiếp cận khác nhau. Trong Báo cáo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Viện văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạtđộng văn hóa con 8 Luan van người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội” [11, tr. Theo đó, đời sống văn hoá là sự hiện diện, tồn tại và phát triển của đời sống tinh thần trong toàn bộ hoạt động thực tiễn xã hội. Đó là một bộ phận của đời sống xã hội, gắn với những giá trị chân - thiện - mỹ, gắn với mọi sản phẩm vật chất và tinh thần, với mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực xã hội.
Để đi đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hóa, chúng ta phải tiếp cận thêm đời sống văn hóa trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt, giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hóa trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hóa theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Chính vì vậy, dựa trên các khái niệm trên về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn hóa, trong phạm vi yêu cầu của đề tài nghiên cứu định nghĩa về đời sống văn hóa như sau: Đời sống văn hóa là phương thức những hoạt động sống của con người, được con người nhận thức và thực hiện một cách tự giác, có định hướng nhằm tạo ra những giá trị văn hóa tốt đẹp. Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa như: các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa và hoạt động văn hóa của con người. Khái niệm xây dựng đời sống văn hóa Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của các cơ quan làm công tác giáo dục văn hóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân và xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh tiến bộ trên từng địa bàn dân cư.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần phát triển vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Từ khi Đảng ta ra đời và trong suốt lịch sử lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta luôn coi văn hóa là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, 9 Luan van quan điểm nầy được đề cập trong Cương lĩnh, đường lối, chiến lược của Đảng và đã được Nghị quyết Hội nghị TW5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa 1.Đường lối của Đảng về công tác xây dựng đời sống văn hóa Phát động phong trào xây dựng đời sống văn hóa là một trong 4 nhóm giải pháp lớn nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhóm giải pháp này xếp ở vị trí đầu tiên, có tính đột phá, huy động sức mạnh toàn dân, toàn diện cho xây dựng văn hóa, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính chiến lược lâu dài, thể hiện quan điểm của Đảng ta coi xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo.
Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ-TW ngày 09- 6-2014) yêu cầu: Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Nghị quyết của Đảng yêu cầu các cấp ủy huy động mọi lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực tham gia. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" phải tạo sự chuyển biến về nhận thức trong cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp, các ngành, từ trong các cơ quan nhà nước đến ngoài 10 Luan van xã hội, trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hoá và nhân tố con người đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phối hợp và đẩy mạnh các phong trào quần chúng hiện có trong phong trào chung Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, đồng thời, lồng ghép bổ sung nội dung văn hoá vào các phong trào hiện có của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương. Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, bảo tồn có chọn lọc những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần những cái lỗi thời, lạc hậu, hình thành dần những tập quán mới văn minh, sống và làm việc theo pháp luật. Xây dựng và phấn đấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nếp sống văn hoá. Huy động nguồn lực của toàn xã hội tham gia các hoạt động sáng tạo và xây dựng đời sống văn hoá, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hoá phát triển, nâng cao dần mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là tư tưởng bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết cộng đồng của dân tộc, từ tư tưởng đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là sự kế thừa những kết quả của Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và được nâng lên với nội dung và tầm cao mới.