phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận văn, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE TÍN NGƯỠNG VA TÍN NGUONG CUA DONG BAO DAN TOC KHMER 1. Một số van đề lý luận về tín ngưỡng 1. Khái niệm tin ngưỡng Tín ngưỡng là gì? Tín ngưỡng là niềm tin mạnh mẽ dựa trên các cam kết cốt lõi đối với các giá trị, qua đó dữ liệu thực tế được gạn lọc dé tạo ra một lập luận mang tính thuyết phục (OECD, 2019).
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thê hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng (Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, 2016). Từ điển Hán Việt do tác giả Thiều Chiru biên soạn định nghĩa: “tín” là niềm tin vào một cái gì đó, “ngưỡng” hàm nghĩa là kính mến, kính trọng bậc bề trên. Theo cách lý giải về mặt ngôn từ, “tín ngưỡng” có thé hiểu là một niềm tin, sự tôn sùng hướng thượng đối với các lực lượng siêu nhiên đứng trên quyền năng của con người. Giáo sư Ngô Đức Thịnh định nghĩa: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng” (Ngô Đức Thịnh, 2022) Tín ngưỡng gắn với niềm tin của con người về một chủ thê nào đó, họ tin nó là sự thật, do đó nó là một sự nhận biết va ghi nhận của con người đối với thế giới xung quanh (Fishbein & Ajzen, 1975).
Tín ngưỡng, niềm tin sẽ dẫn dắt con người đến một thái độ nào đó, tuỳ thuộc vào sự nhận thức và trải nghiệm của họ (Carol Underwood, 2019). Tín ngưỡng được tạo ra bởi nhiều yếu tố, vừa do các yếu tổ cá nhân vừa bao gồm các yếu tố xã hội, hội nhóm. Về bản chat tín ngưỡng là mức độ nhận thức cua con người, tạo cho họ niêm 13 tin, tỏ rõ thái độ cũng như hành vi của họ hướng về các chủ thể, sự vật hay hiện tượng nào đó (Wei-Ta Fang & cộng sự, 2017). Tín ngưỡng ở Việt Nam mang các đặc trưng sau đây: Tín ngưỡng phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của con người và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.
Mỗi tín ngưỡng mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, góp phần tạo nên nét đẹp cho nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo Khái niệm tín ngưỡng được triển khai trong mối tương quan với khái niệm tôn giáo. Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thé hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh. Tuy nhiên, hiện tại chưa có sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cầu thành một tôn giáo (Morreall, John và Somn, Tamara, 2013).
Theo Luật Tín ngưỡng Tôn giáo (Quốc Hội, 2016) thì Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Về bản chất, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, phản ánh hư ảo thực tại xã hội bằng những lực lượng siêu nhiên, về hình thức biểu hiện, tôn giáo bao gồm hệ thống các quan niệm tín ngưỡng (giáo lí), các quy định về hình thức lễ nghi (giáo luật) và những cơ sở vật chat dé thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Mặt khác, tôn giáo cũng đang đáp ứng phần nào nhu cầu tinh thần của quan chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự 14 do, bình đăng, bác ái. Vì vậy, nhiều người trong các thành phần xã hội khác nhau tin theo. Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Khải (2018), giữa Tôn giáo và Tín ngưỡng có sự giống và khác nhau cơ bản như sau: Sự giống nhau.
Một là, những người có tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành,.) và có sinh hoạt tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ cúng tô tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Mau,.) đều tin vào những điều mà tôn giáo đó và các loại hình tín ngưỡng đó truyền dạy, mặc dù họ không hề được trông thay Chúa Trời, đức Phật hay cụ ky tổ tiên hiện hình ra bằng xương băng thịt và cũng không được nghe bằng chính giọng nói của các dang linh thiêng đó. Sự giống nhau thứ hai giữa tôn giáo và tín ngưỡng là những tín điều của tôn giáo và tín ngưỡng đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thé với nhau, giữa cá thé với xã hội, với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở giáo lý tôn giáo và noi theo tam gương sáng của những đắng bậc được tôn thờ trong các tôn giáo, các loại hình tín ngưỡng đó. Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng Một là, nêu tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đô, thì các loại hình tín ngưỡng dân gian không có 4 yếu tô đó. Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo ấy (Thích ca Mâu ni sáng lập ra đạo Phật, đức chúa Gié su sáng lập ra dao Công giáo, nhà tiên tri Mô ha mét sáng lập ra đạo Hồi,.); giáo lý là những lời day của đức giáo chủ đối với tín đồ; giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành để duy trì nếp sống đạo trong tôn giáo đó; tín đồ là những người tự nguyện theo tôn giáo đó.
15 Hai là, nếu đỗi với tín đồ tôn giáo, một người, trong một thời điểm cụ thé, chỉ có thé có một tôn giáo thì một người dân có thé đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau. Chang hạn, người đàn ông vừa có tín ngưỡng thờ cụ ky tổ tiên, nhưng ngày mùng Một và Rằm âm lịch hàng tháng, ông ta còn ra đình lễ Thánh. Cũng tương tự như vậy, một người đàn bà vừa có tín ngưỡng thờ ông bà cha mẹ, nhưng ngày mùng Một và Răm âm lịch hàng tháng còn ra miéu, ra chùa làm lễ Mẫu. Ba là, nêu các tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ thì các loại hình tín ngưỡng chỉ có một số bài văn tế (đối với tín ngưỡng thờ thành hoàng), bài khan (đối với tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ Mẫu).
Hệ thống kinh điển của tôn giáo là những bộ kinh, luật, luận rất đồ sộ của Phật giáo; là bộ “Kinh thánh” và “Giáo luật” của đạo Công giáo; là bộ kinh “Qur’an” của Hồi giáo,. Còn các cuốn “Gia phả” của các dòng họ và những bài hát chầu văn mà những người cung văn hát trong các miéu thờ Mẫu không phải là kinh điền. Bốn là, nêu các tôn giáo đều có các giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp và theo nghề suốt đời, thì trong các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian không có ai làm việc này một cách chuyên nghiệp cả. Các tăng sĩ Phật giáo và các giáo sĩ đạo Công giáo đề là những người làm việc chuyên nghiệp và hành đạo suốt đời (có thể có một vài ngoại lệ, nhưng số này chiếm tỷ lệ rất ít).
Còn trước đây, những ông Dam của làng có | năm ra đình làm việc thờ Thánh, sau đó lại trở về nhà làm những công việc khác, và như vậy không phải là người làm việc thờ Thánh chuyên nghiệp. (Nguyễn Quang Khải, 2018) Như vậy nghiên cứu Tín ngưỡng, Tôn giáo và so sánh sự giống và khác nhau giữa chúng cho thấy: cả hai đều có vai trò rất quan trọng và đóng góp những giá trị nhất định vào đời sống tinh thần, tâm linh của con người, giúp con người có cuộc sông bình yên, tạo niêm tin được che chở, hạnh phúc và là 16 động lực thôi thúc họ hành thiện, yêu thương và giúp đỡ người khác. Vì thế tín ngưỡng và Tôn giáo được nhà nước công nhân và được pháp luật bảo vệ. Những tín ngưỡng cơ bản của đồng bào dân tộc Khmer và ảnh hưởng của tín ngưỡng đến đời sống vật chất, tinh thần của người Khmer 1.
Những tín ngưỡng cơ bản của đồng bào dân tộc Khmer Đồng bào dân tộc Khmer ở Việt Nam sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Nam bộ. đứng thứ 5 trong số 54 tộc người tại Việt Nam. Người Khmer đồng thời cũng là tộc người có dân số cao nhất trong nhóm Môn - Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á. Theo kết quả điều tra thực trạng Kinh tế- Xã hội của 53 Dân tộc thiểu số năm 2019, do Tổng cục Thống kê (Tổng cục Thống kê, 2020) phối hợp cùng Ủy ban Dân tộc thực hiện, dân tộc Khmer có 1.319,652 người, với khoảng 330 nghìn hộ gia đình, sinh sống tập trung chủ yếu ở 488/691 xã, phường, thị tran vùng Tây Nam bộ.
Trước đó, năm 2009, dân tộc Khmer có 1.640 người; bình quân tăng dân số trong giai đoạn 2009 — 2019 là 0,46%/nam (Khánh Thu, 2022) Trong các địa phương vùng Tây Nam bộ thì, đồng bào Khmer sinh sống tập trung nhiều nhất tại các tỉnh: Sóc Trăng , Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang va Bạc Liêu. Tỉnh Sóc Trăng có số lượng người Khmer đông nhất (362.029 người, chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số người Khmer tại Việt Nam). Thứ hai là tinh Trà Vinh (318.231 người, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2% tong số người Khmer tại Việt Nam). Thứ ba là tỉnh Kiên Giang (211.282 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 % tổng số người Khmer tại Việt Nam).
Tại An Giang có 75.878 người và tỉnh Bạc Liêu là 73. Ngoài ra người Khmer còn sinh sống tại các địa phương khác như: Bình Dương (65.233 người); Thành phố Hồ Chí Minh (50.422 người), Cà Mau (26.110 người), Đồng Nai (23.560 người), Vĩnh Long (22.630 người), 17 Cần Thơ (19.683 người), Bình Phước (19.315 người), Hậu Giang (18.467 nguoi), Long An (9.980 người), Tây Ninh (9.