CHƯƠNG 1 TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Giới thuyết về truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại cơ bản của văn học. Khi bàn về truyện ngắn, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề xuất nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn. Giáo trình Lí luận văn học định nghĩa: “Truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học.
Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn con người” [21, 397]. Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Khác với tiểu thuyết, truyện ngắn là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến việc khắc họa một hình tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người”[10,371]. Victor Sawdon Pritchett coi truyện ngắn là “một điều gì đó thoáng trông thấy khi ta đi ngang qua”. Còn John Updike thì nói: “Đấy là các tác phẩm dài vài ngàn từ, được viết trên cơ sở kinh nghiệm trực tiếp của tôi hơn là tiểu thuyết.
Chúng chứa đựng những cuộc phiêu lưu, những khó khăn, những giây phút khủng hoảng và niềm vui của chính tôi”. Qua việc tìm hiểu một số quan niệm về truyện ngắn của các nhà văn trong và ngoài nước, chúng ta nhận thấy truyện ngắn là một thể tài có hình thức nhỏ nhưng chứa đựng nội dung lớn lao. Được sinh ra từ những câu chuyện kể hàng ngày rất tự nhiên, truyện ngắn hình thành và phát triển vượt 6 bậc với sức dẻo dai phi thường qua sự sáng tạo của nhiều thế hệ nhà văn. Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại.
Đến nay, truyện ngắn đã ngày một khẳng định vị trí và ưu thế của mình trong hệ thống loại hình tự sự của văn học thế giới. Trên văn đàn Việt Nam, tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được đánh giá là mốc xuất hiện đầu tiên của truyện ngắn. Tác phẩm được in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918. Đây được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối Tây phương của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Từ những trải nghiệm thực tế với trận lũ lịch sử ở Bắc Kì mà Phạm Duy Tốn từng miêu tả trong bài báo nổi tiếng “Hoạn nạn tương cứu” đã trở thành cảm hứng, chất liệu dồi dào để nhà văn viết nên Sống chết mặc bay. Tác phẩm đánh dấu sự xuất hiện của thể loại truyện ngắn trên diễn đàn văn xuôi Việt Nam cũng là sự kết thúc hoàn hảo trong sự nghiệp văn học của Phạm Duy Tốn ở mảng truyện ngắn. Mặc dù ông không viết truyện ngắn nữa nhưng trên văn đàn Việt Nam đã có sự kế tiếp của nhiều nhà văn tài năng đã đưa truyện ngắn bước thêm một bước tiến mới trên bục đài vinh quang như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,. Sau giai đoạn “buổi đầu” với nhiều thành tựu đáng ghi nhận, truyện ngắn việt Nam có bước phát triển mới trong giai đoạn 1945 – 1975, phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, truyện ngắn gặt hái thành tựu với nhiều cây bút tài năng như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,. Ba mươi năm đất nước có chiến tranh, truyện ngắn ghi dấu ấn ở những tên tuổi như Tô Hoài, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long, Ma Văn Kháng,. Thời kì đổi mới, truyện ngắn tiếp tục phát huy được thế mạnh của mình với một đội ngũ, người viết văn đông đảo. Trong số 7 đó đặc biệt phải kể đến vai trò của các nhà văn nữ như Phan Thị Vàng Anh, Đoàn Lê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ , Nguyễn Ngọc Tư,.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, văn học cũng cần phải có sự đổi thay để đáp ứng được nhu cầu của thời đại. Theo quy luật ấy, truyện ngắn cũng có sự vận động, phát triển riêng qua từng giai đoạn. Sau 1975, cùng với sự vận động đổi mới của các thể tài khác, truyện ngắn đã có bước chuyển mình lớn lao. Các nhà văn đã dũng cảm nhìn vào sự thật, viết về sự thật.
Truyện ngắn từ đó mở rộng biên đọ phản ánh, có cái nhìn đa diện về đời sống và con người nên đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Những đổi mới của truyện ngắn đương đại đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của độc giả. Diện mạo truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam đương đại Sau năm 1975, cùng với sự đổi mới về tư duy chính trị - kinh tế, không khí dân chủ được mở rộng và cũng là thời kì giao lưu văn hóa đa chiều. Thời tiết chính trị là tiền đề cho sự xuất hiện một loạt tác phẩm viết theo phong cách “cởi trói”.
Và thông qua giao lưu hội nhập, văn học nước ta có điều kiện để tiếp xúc, lĩnh hội những giá trị đích thực của văn học thế giới. Các nhà văn cũng có cơ hội để bộc lộ quan điểm và cá tính sáng tạo của mình. Bên cạnh những cây bút đã trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến xuất hiện những cây bút mới hăm hở, xông xáo, tài năng và nhiều hoài bão.Quan niệm văn học thời kì này cũng cởi mở hơn, gắn với cá tính sáng tạo của người viết. Không đơn điệu, một chiều, các nhà văn dám đối mặt với thực tế đời sống, văn chương phản ánh chân thực tâm lý phức tạp của con người, qua đó can dự trực tiếp vào đời sống xã hội.
Các nhà văn không thần thánh hóa văn chương, không đặt vào đó quá nhiều hi vọng cao siêu. Văn chương cũng như một hiện tượng của đời sống. “Văn chương sẽ sống cái sức sống của nó. Nhưng như tất cả mọi việc trên đời này, văn chương cũng có giới hạn, có sự sáng lên, sự mất đi, có cái cao cả cũng như cái bình thường” (Lê Minh 8 Khuê).
“Với tôi văn chương là một tôn giáo, nó không mang màu sắc chính trị nào cả. Nó là nỗi đau, là khát vọng của con người” (Thái Thăng Long). Như vậy, cách nhìn văn học như một vũ khí tuyên truyền về cơ bản đã được giải tỏa. Văn học đã được nhìn nhận trong bản chất đặc thù của nghệ thuật ngôn từ, xuất phát từ quan niệm của người cầm bút.
Từ đây nhà văn chủ động và tự do hơn trong sáng tạo của mình. Nhà văn tôn trọng năng lực “đồng sáng tạo” ở bạn đọc và đôi khi họ còn dành quyền quyết định cuối cùng cho người đọc đối với tác phẩm của mình. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cho rằng, trong khả năng tiếp nhận và lí giải thế giới nghệ thuật nhà văn với bạn đọc luôn bình đẳng nhau: “Người viết chỉ nên làm một người bạn tâm tình với người đọc chứ đừng là người dạy người đọc vì chưa chắc cứ nhà văn giỏi đã có văn hóa”. Nhiệm vụ của nhà văn không phải là nói ra chân lí mà thức tỉnh ý thức, hướng về chân lí hoặc thức tỉnh lương tri hoặc ý thức con người “Nhà văn giữ vai trò là người đối thoại, đưa ra những nhận xét, đề nghị với người đọc để cùng suy nghĩ, tìm kiếm, có thể cả tranh luận” (Lê Minh Khuê).
Người đọc ngày nay không còn thụ động trong việc tri nhận giá trị tác phẩm, không quá lệ thuộc vào tư tưởng của nhà văn. Qua đó, bạn đọc cũng phát huy được năng lực sáng tạo nghệ thuật của mình trong việc nhận thức, lí giải thực tại đời sống. Có thể thấy, sau 1975 truyện ngắn Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. “Chỉ tính riêng ba cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức đã có gần 7000 truyện ngắn dự thi.
Nếu tính cả truyện ngắn đăng trên báo tạp chí trong năm, con số lên hàng vạn”. Theo nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng “Cuộc thi truyện ngắn 2001-2002 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức có gần 2000 tác phẩm dự thi, bằng số lượng của bốn năm 1978 – 1979, 1983 – 1984”. Điều đó cho thấy tiềm lực của thể loại tự sự cỡ nhỏ. Có thể nói, chưa 9 bao giờ truyện ngắn lại phát triển phong phú về số lượng lẫn hiệu quả như thời kì này.
Truyện ngắn thời kì đổi mới đi vào mọi vấn đề của cuộc sống thường nhật. Các tác giả đã cố gắng mổ xẻ những mối quan hệ phức tạp, chằng chịt cùng nhiều vấn đề mới nảy sinh, điều mà trước đây, do nhiều nguyên cớ chưa phản ánh được, hay đúng hơn chưa có điều kiện suy ngẫm, nhìn lại. Bao nhiêu phức tạp ồn ào, bao nhiêu dư vị đắng chát của cuộc sống thời đổi mới được truyện ngắn phản ánh chân thực.“Văn học phải có cái gì của văn học, chứ không muốn văn học chỉ là một sự minh họa”[4, 130]. Truyện ngắn giờ đây không còn là sự mô phỏng, sao chép hiện thực đời sống nữa mà nó đã mang sức nặng của sự khái quát qua mỗi câu chuyện có thể thấy cả một cuộc đời, một kiếp người, một vận hội, một thời đại.
Có những truyện ngắn còn nặng hơn cả một cuốn tiểu thuyết như Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh,… Chứa đựng trong đó là bao ẩn ức của con người được tác giả phản ánh chân thực và sâu sắc. Cho tới nay, các nhà văn cũng ngày càng khẳng định được những nỗ lực, tìm tòi trong trải nghiệm sáng tạo văn chương của mình. Họ chấp nhận đương đầu với thử thách khó khăn, vượt lên mọi dư luận khen chê bằng tài năng và bản lĩnh của mình đem đến một lối nghĩ mới, một cách nhìn mới, một phương thức miêu tả mới về hiện thực. Văn học giai đoạn này ghi nhận sự hình thành của nhiều phong cách truyện ngắn độc đáo như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư,.
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong đời sống văn xuôi đương đại 1.Tiểu sử nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư tên thật là Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Học đến lớp 10 Ngọc 10 Tư đã phải nghỉ học giữa chừng, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông ngoại bị bệnh nặng không ai chăm sóc.