PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: 1. Chế Lan Viên là một tác gia có vị trí rất quan trọng trong nền văn chương Việt Nam hiện đại. Hơn nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, để lại cho đời biết bao vần thơ đặc sắc.
Người đọc ở nhiều thế hệ tìm đến thơ Chế Lan Viên với niềm say mê và khâm phục. Sự cần mẫn, sung sức, cùng với tài hoa và tâm huyết nghệ thuật đã giúp Chế Lan Viên vươn tới đỉnh cao của thơ Việt Nam hiện đại. Các công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên theo thời gian ngày một nhiều hơn, ngày một sâu sắc hơn, tạo cho người đọc nhìn nhận đầy đủ hơn những giá trị to lớn mà ông đã đạt được trong quá trình sáng tạo thi ca. Ở mỗi công trình nghiên cứu, với mức độ khám phá, tìm tòi khác nhau, đã từng bước khẳng định được vị trí, giá trị, ý nghĩa của thơ ông đối với cuộc sống nói chung và sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại nói riêng.
Đến với thơ Chế Lan Viên, chúng ta như bước vào một lâu đài kì diệu và bí mật mà càng tìm tòi khám phá, chúng ta càng phát hiện thêm nhiều giá trị có ý nghĩa lớn lao về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật trong thơ ông. Bởi thế, nghiên cứu thơ Chế Lan Viên, chúng tôi quan niệm cần nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện về đặc trưng nghệ thuật trong thơ ông. Đây chính là điểm xuất phát quan trọng để đánh giá chính xác những sự cống hiến to lớn đối với thơ và hiểu thêm về tài năng, nhân cách của Chế Lan Viên, một con người sâu nặng tình đời, tình thơ. Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn, Chế Lan Viên đã là “một niềm kinh dị” đối với người đọc và cho đến những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh ông vẫn chạy đua với thời gian để sáng tạo.
Sau khi ông qua đời, một lần nữa người đọc lại phải sửng sốt trước 3 tập Di cảo thơ mà vì nhiều lí do khác nhau ông chưa có dịp cho ra mắt bạn đọc. Khi tìm hiểu những công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy, tuy có không ít công trình nghiên cứu dày công trong việc khám phá, khẳng định tài năng thơ giàu sức sáng tạo của Chế Lan Viên, nhưng việc tiếp tục khảo sát, tìm tòi để phát hiện thêm thành tựu và cống hiến to lớn về thơ của ông vẫn là điều cần thiết. Mặt khác, cũng cần nhận thấy, trong chương trình giảng dạy ở trường phổ thông trung học, thơ Chế Lan Viên có một vị trí quan trọng ở các bài văn học sử và giảng văn. Ở bậc Đại học, Chế Lan Viên được giảng dạy với tư cách là một tác gia, được nhìn nhận đánh giá ở nhiều phương diện.
Với những lẽ trên, sự xuất hiện những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Chế Lan Viên lại càng cần thiết hơn. Điều đó sẽ giúp ích không nhỏ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Chế Lan Viên ngày càng có hiệu quả sâu sắc hơn. Vì thế, chúng tôi không ngần ngại đi vào nghiên cứu vấn đề Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, mặc dù, chúng tôi hiểu rằng muốn đạt được sự thành công ở đề tài này, chúng tôi sẽ gặp không ít khó khăn. Lịch sử vấn đề: Chế Lan Viên để lại một di sản văn chương to lớn với nhiều thể loại khác nhau, trong đó thơ giữ một vị trí then chốt.
Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn, Chế Lan Viên đã làm cho người yêu thơ phải khâm phục, ngạc nhiên và người nghiên cứu về thơ phải ngẫm nghĩ nhiều về tài hoa nghệ thuật của ông. Càng ngày, thơ Chế Lan Viên càng được người đọc quan tâm và yêu thích. Chính vì thế, nghiên cứu thơ Chế Lan Viên đó là điều được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, và giới giảng dạy Ngữ Văn ở các trường Đại học rất quan tâm. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau, họ đã khám phá được nhiều giá trị của thơ Chế Lan Viên, khẳng định được vị trí, tầm vóc của Chế Lan Viên trong đội ngũ nhà thơ Việt Nam hiện đại.
Lẽ tất nhiên, việc nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, trải dài hơn nửa thế kỉ, trong những hoàn cảnh lịch sử - xã hội khác nhau, nên chắc chắn có ý kiến đánh giá khác nhau về giá trị và hạn chế của thơ ông. Từ đó chúng ta có điều kiện để xem xét kĩ hơn, trân trọng và yêu mến thơ Chế Lan Viên hơn. Trước cách mạng tháng Tám,1945. Sáng tác thơ của Chế Lan Viên ở thời kì trước cách mạng tháng Tám bao gồm Điêu tàn (1937) và một số bài thơ khác sau Điêu tàn.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ Chế Lan Viên thời kì này chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu về sự xuất hiện của một tài năng thơ làm kinh ngạc người đọc. Trong số ít những bài viết về thơ Chế Lan Viên, theo tôi, bài viết có giá trị nhất đó là bài giới thiệu của Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam. Cho dù ý kiến nhận xét về thơ Chế Lan Viên của ông đã cách đây hơn nửa thế kỉ nhưng nó vẫn có giá 7 trị lâu bền. Ông đã nhìn nhận về thơ Chế Lan Viên lúc này một cách tinh tế, chính xác.
Ông cho rằng sự xuất hiện của Chế Lan Viên đã khiến biết bao người phải ngạc nhiên bởi “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỉ hai mươi, nó đứng sửng như một cái Tháp Chàm, chắc chắn, lẻ loi và bí mật”[182, tr. Từ thực tế sáng tác của Chế Lan Viên, Hoài Thanh không ngần ngại khi dự đoán : “Một nhà thơ sau này sẽ đi xa : Chế Lan Viên”. “Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” [182, tr. Hơn thế nữa, nhà thơ còn nhận thấy chính sự độc đáo trong cách khám phá cuộc sống đã góp phần làm nên sức mạnh phi thường cho thơ Chế Lan Viên, vì thế, ông khẳng định : “Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngông cuồng ấy, tôi còn thấy một sức mạnh phi thường”[182, tr.
Mặt khác, Hoài Thanh còn chỉ ra “lối thơ” của Chế Lan Viên khi so sánh với “lối thơ” của Hàn Mặc Tử, ông cho rằng: “Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và qua Baudelaire ảnh hưởng nhà văn Mĩ Edgar Poe .Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh kinh của đạo Thiên chúa. Cả hai đều ngự trị trường thơ Loạn”. “Tôi vừa nói Chế Lan Viên đi về thơ Đường. Nếu nói đi đến thơ tượng trưng Pháp có lẽ đúng hơn, tuy hai lối thơ này có chỗ giống nhau “[182, tr.
Năm 1938, ở bài Chế Lan Viên - một thi sĩ điên (đăng trong Tiến Bộ, số 20 - 3 - 1938), Phong Trần (tức Hàn Mặc Tử ) đã cho rằng, Chế Lan Viên là “một thần đồng làm cho thiên hạ phải ganh tị”. Bên cạnh đó, đáng chú ý ở thời kì này còn có ý kiến đánh giá của Lê Thiều Quang về tập thơ Điêu tàn, ông cảm nhận: “Không rụt rè, tôi mừng rỡ đón tiếp tia sáng mới lạ ấy; nó bắt đầu lấp ló trong vườn thơ Việt Nam, bên cạnh và cũng không kém những tia sáng khác và đồng thời, nó không giống một tia nào”. Ông còn thốt lên : “Điêu tàn mới lạ quá”. “ta thấy nó như thực, như mơ, như ảo huyền mộng mị.
Muốn hiểu nó, ta cũng phải dùng đến trí tưởng tượng, cộng thêm với trực giác của ta” [164, tr. Có thể nói, Lê Thiều Quang đã chỉ ra được cái mới ở tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên so với thơ của các nhà thơ khác. Ông khẳng định : “Nhưng từ bây giờ chúng ta hãy biết công cho Chế Lan Viên, người đã đem đến cho ta một cảm giác lạ” [164, tr. 8 Ngoài ra, Vũ Ngọc Phan khi so sánh cái sầu trong thơ Chế Lan Viên với cái sầu trong thơ Hàn Mặc Tử đã viết : “Chế Lan Viên, trái lại, không cứng cáp chút nào.
Thơ ông toàn là những tiếng khóc than, ông tả rặt những cái u sầu; ông có giống Hàn Mặc Tử thì chỉ giống ở chỗ hay nhắc đến linh hồn, chứ cái sầu của ông tràn lan hơn Hàn Mặc Tử nhiều, cái sầu của ông là cái sầu não nùng thê thảm, cái sầu bát ngát khó khuây [156, tr. Có thể nói, sự đánh giá trên của Vũ Ngọc Phan chưa làm rõ được cái kích tấc phi thường và sức vươn xa của nhà thơ Chế Lan Viên. Những công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên ở thời kì trước cách mạng chưa nhiều, chưa đi vào khai thác một cách hệ thống và ít bàn về các phương diện nghệ thuật thơ. Hơn nữa, việc nghiên cứu thơ Chế Lan Viên hầu như được đặt chung với việc nghiên cứu thơ của các nhà thơ khác trong phong trào Thơ Mới.
Những thành tựu của việc nghiên cứu thơ Chế Lan Viên chỉ mới đạt được trong giới hạn đó cũng là lẽ dĩ nhiên và phù hợp với thực tế sáng tác cũng như vị trí của nhà thơ Chế Lan Viên ở thời kì này. Từ năm 1946 đến năm 1954 Đây là thời kì kháng chiến chống Pháp nhiều gian khổ hi sinh song cũng rất đỗi hào hùng của dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội đó, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng việc nghiên cứu văn học vẫn luôn được đặt ra. Những vấn đề tranh luận, thảo luận chủ yếu là vấn đề lí luận được đặt ra trong thực tiễn sáng tác và tiếp nhận văn học, nhất là vấn đề xây dựng một nền văn nghệ mới.
Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về một tác giả hầu như chưa được giới nghiên cứu quan tâm. Mặt khác, ở thời kì này, do quan điểm đánh giá, cách nhìn nhận của người nghiên cứu, phong trào Thơ Mới được xem là một bộ phận của văn học lãng mạn tiêu cực, có hại cho cách mạng. Thật khó giải thích cho thỏa đáng điều đó khi chính bản thân các nhà Thơ Mới nổi tiếng như : Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh .,tự phủ nhận những vần thơ của chính mình. Bởi thế, trong hoàn cảnh đó, việc nghiên cứu, đánh giá thơ Chế Lan Viên trước cách mạng tháng Tám quả là điều ít ai nghĩ tới.