CHƯƠNG 1 THI PHAP, THI PHAP HOC VA VAI NET VE NHA THO HAN MAC TU’ 1. LÍ LUẬN CHUNG VẺ THỊ PHÁP VÀ THỊ PHÁP HỌC 1. Lí luận chung về thi pháp 1. Các ý kiến khác nhau về thi pháp Nhà nghiên cứu Roman Giacốpxơn trong công trình “Ngôn ngữ học va thi pháp học” (1960) định nghĩa thi pháp là một bộ môn của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu những cách thức làm cho phát ngôn trở thành lời thơ.
Nhà nghiên cứu Pháp Ts. Tôđôrốp trong công trình 7 pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là các quy tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra các tác phẩm văn học cụ thể. Khrapchencé đưa ra: “Nếu như không đòi hỏi một định nghĩa trọn vẹn, bao trùm được tất cả, thì theo tôi, có thể xác định thi pháp học như là một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện một cách nghệ thuật, cũng như khám phá đời sống một cách hình tượng”. Đỗ Đức Hiểu trong Đổi mới phê bình văn học quan niệm: “Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học.
Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp cấu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp,.) yêu câu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tô ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu đạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan,. tức là cái đẹp của thể giới, con người. Điểm xuất phát của thi pháp học là coi tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ. Nếu mỹ học là lý luận các nghệ thuật, thi pháp là mỹ học của văn học, là lý luận văn học; vậy thi pháp gắn chặt với ngôn ngữ học và mỹ học.
Thi pháp hay lý luận văn học (Theo định nghĩa của Vacga — Varga) trước hết nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó mới tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ấn giấu của tác phẩm ”. GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 6 SVTH: Sơn Thị Nhàn Thi pháp Thơ điên của Hàn Mặc Tử Trong Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp, Nguyễn Thị Dư Khánh khắng định: Theo chúng tôi, có thể xác lập nội đung của khái niệm /h pháp từ chính nội dung ngữ nghĩa của nó: Chữ /¡ ở đây dùng để chỉ toàn bộ văn học nói chung chứ không phải nói riêng về thơ. 71 là cách nói đã quen, mang nội dung lịch sử, ghi dau ấn của cả một thời kì lịch sử khá dài, khi mà mọi loại hình văn học từ anh hùng ca, truyện, kịch, tiểu thuyết.đều được điễn đạt bằng thơ. Còn pháp là phương pháp, là phép tắc.
Vậy /bi pháp là phương pháp, là phép tắc làm văn, làm thơ. Có thể nói ngay ở đây, phép fắc căn bản nhất của nó là phép sáng fạo, hư cấu nghệ thuật. Tất nhiên không phải xuyên tạc, làm méo mó đời sống mà là để thể hiện đời sống một cách nghệ thuật, lung linh, hấp dẫn. Dù các quan điểm lí luận có khác nhau, có lệ thuộc vào những thiên kiến xã hội, giai cấp, chính trị như thế nào thì vẫn không thể thừa nhận một thực tế là, ngay từ buổi sơ khai, các nhà nghệ thuật vô danh cũng đã không chịu băng lòng với việc mô phỏng, sao chép tự nhiên mà luôn luôn khát vọng khám phá, chiếm lĩnh và chinh phục tự nhiên bằng những sáng tạo bay bồng của mình.
Và từ buổi bình minh của lịch sử cho đến nay, văn học nhân loại đã sang tạo ra bao nhiêu hình thức đa dạng phong phú khác nhau, nhưng dù có biến đổi phát triển như thế nào thì bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng là quá trình chủ quan hóa trong sự cảm nhận và lí giải đời sống, gắn liền với quá trình sáng tạo ra những hệ thống hình tượng nghệ thuật, với những phong cách cá nhân hay thời đại khác biệt. Nghệ thuật — thật sự là nghệ thuật đích thực — bao giờ cũng là khát vọng giãi bày những xúc động mãnh liệt, những suy tư sâu sắc — mang đậm nét tính chủ quan của chủ thể sáng tạo trong nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện dé tạo nên một thế giới thứ hai, thế giới có thê có, thế giới khao khát, thế giới có thật. Chứ không phải chỉ là phép phản ánh giản đơn. Ở đây, có mối tương quan giữa nội dung phản ánh và sự phản ánh, tư tưởng và nghệ thuật, cá nhân và thời đại.
diễn ra trong một tiến trình nghệ thuật mang tính đặc thù: nó vừa là hoạt động của ý thức và vô thức, vừa là kết quả của quan sát thực tế và tưởng tượng bay bổng: vừa sản phẩm của trạng thái hưng phan xuất thần, đột ngột vừa có thể là kết quả của một quá trình nung nấu thai nghén dai dắng, mang nặng đẻ đau; nó cũng có thể là kết quả của những năng lực thiên bẩm nhưng cũng vừa là sản phẩm của những lao động miệt mài, vừa kêt quả của những đam mê say đăm, hạnh phúc, khô đau.và cuôi cùng là GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 7 SVTH: Sơn Thị Nhàn Thi pháp Thơ điên của Hàn Mặc Tử đề tạo thành tác phâm: một văn bản ngôn từ. Tóm lại thi pháp là toàn bộ quá trình sáng tạo ra tác phẩm bằng nghệ thuật ngôn từ, bắt đầu bằng việc thai nghén nuôi dưỡng cảm hứng cho đến việc lựa chọn giọng điệu, thé van, thé thơ. Đi tìm thi pháp của một tác gia, tác phẩm.chủ yếu không phải xem tác phẩm, tác giả. nói cái gì, mà chủ yếu là xem tác giả nói như thế nào, bằng một hình thức nghệ thuật ra sao.
Lẽ đương nhiên, nghệ thuật của tác phẩm bao giờ cũng gắn liền với nội dung trong sự thống nhất vốn có. Tuy nhiên, sự thống nhất này, không làm cản trở việc nghiên cứu những hiện tượng thuộc về hình thức và quy luật mang tính hình thức của nó. Tóm lại, nói đến ứ#¿ pháp chủ yếu là nói đến “quá trình sáng tạo những hình thức nghệ thuật của tác phẩm. là nói đến những phương thức, phương tiện, những thao tác nghệ thuật của nhà nghệ sĩ ngôn tử”.
Ý kiến của Trần Đình Sử Trần Đình Sử, trong Tử pháp văn học trung đại Việt Nam, “thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chỉ phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó”. Trong Thỉ pháp Truyện Kiểu, Tran Đình Sử nhấn mạnh: “Thi pháp là hệ thong các nguyên tắc nghệ thuật thấm nhuân ý thức chủ thể của tác giả. Thi pháp học hiện đại bao gồm phong cách nghệ thuật như một bộ phận của nó. Phong cách nghệ thuật ở đây không chỉ là sự lựa chọn những yếu tỔ tư tưởng, tình cảm, phương diện để dệt nên một tác phẩm nghệ thuật nhất định, mà còn là sự thống nhất những cái đã được chọn lựa vào một thể thống nhất hữu cơ, hoàn chỉnh.
Không có sự thống nhất trên mọi cấp độ và giữa các cấp độ với nhau thì không có được phong cách. Yếu tô tạo nên sự thông nhất ấy không gì quan trọng hơn là quan niệm nghệ thuật`. Tính sáng tạo của bất kỳ tác phẩm nào đều bắt đầu từ sáng tác trong quan niệm, bất kế tác giả có ý thức được điều đó hay không. Thiếu một quan niệm mới thì không thê có được một sang tạo thật sự mới trong nghệ thuật.
Tính hệ thống của nghệ thuật thể hiện ở chỗ mọi quan niệm mới về thế giới và con người đòi hỏi những biện pháp nghệ thuật tương ứng trên các cấp độ. ĐI tìm quan niệm nghệ thuật và hệ thống biện pháp nghệ thuật tương ứng vốn có của một tác phẩm là thực chất của việc nghiên cứu thi pháp tác phẩm. Nghiên cứu thi pháp văn học khác hắn với GVHD: Nguyễn Hoa Bằng 8 SVTH: Son Thi Nhan Thi pháp Thơ điên của Hàn Mặc Tử việc phê bình thiên về bình luận, bình giáng theo lỗi cảm thụ chủ quan thịnh hành. Nó phải tận dụng nhiều thao tác kĩ thuật để phân tích, chứng giải.
Do vậy, các thao tác ngữ học, tự sự học cũng được chú thích đáng. Những khái niệm, thuật ngữ mới cũng được vận dụng. Xác định khái niệm Từ rất nhiều ý kiến khác nhau, ta có thể thấy rõ hiện nay khó có thê tìm thấy một định nghĩa mà được mọi nhà nghiên cứu chấp nhận. Riêng đối với bản thân tôi, tôi đồng ý với quan niệm tổng quát nhất do Trần Đình Sử đưa ra: “Ti pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chỉ phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó.
Thi pháp không phải là nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có của sảng tạo nghệ thuật, hình thành cùng với nghệ thuật. Nó là mỹ học nội tại của sảng tạo nghệ thuật nhất định, mang một quan điểm nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nên văn học. Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp”.
Lí luận chung về thi pháp học 1. Khái niệm về thi pháp học Trong các bộ môn của ngành nghiên cứu văn học hiện nay như lịch sử văn học, lý luận văn học, phê bình văn học thì thi pháp là một bộ môn nghiên cứu có nhiệm vụ đặc thù. Cũng như nhiều bộ môn nghiên cứu văn học khác đang được triển khai theo nhiều hướng khác nhau, về thi pháp học, hiện nay cũng khó tìm thấy một định nghĩa được mọi nhà nghiên cứu chấp nhận. Tuy nhiên, nhìn chung có thể đồng ý với quan niệm tổng quát nhất do Viện sĩ M.B Khrapchencô đưa ra: “Nếu như không đòi hỏi một định nghĩa trọn vẹn, bao trùm được tất cả, thì theo tôi, có thể xác định thi pháp học nhự một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện một cách nghệ thuật, cũng như khám phá đời sống một cách hình tượng”.V Vinôgrađốp xác định: “7i pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, các phương thức tổ chức tác phẩm sảng tác ngôn từ, các kiễu cấu trúc, các thể loại tác phẩm nhằm nắm bắt.