CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO TRONG DÒNG RUYỆN NGẮN 1930 - 1945 1.1 Thời đại Khi bàn về phong cách của một nhà văn, cũng như sự nghiệp sáng tác của họ thì có một yếu tố không thể không nhắc tới. Đó là yếu tố thời đại. Có thể nói, thời đại là yếu tố có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ tới con người. Con người ấy, nhà văn ấy lựa chọn phong cách như thế nào cũng do phần nhiều sự tác động của thời đại mà họ đang sống, cái hiện thực mà họ đang trải qua.
Trong tác phẩm của mình, nhà văn luôn có một hệ thống nhân vật, những chuỗi tình huống, những hình ảnh biểu tượng mà với đời sống xã hội hằng ngày, chúng chính là những tấm gương phản chiếu. Nói cách khác, yếu tố thời đại góp phần nhiều trong việc định hình phong cách nghệ thuật của nhà văn. Vấn đề này có mối liên quan chặt chẽ với chức năng nhận thức của văn học. Một nhà văn độc đáo là một nhà văn mà những tác phẩm của họ giúp người đọc biết thêm, có thêm tri thức và những tri thức ấy là những hiểu biết về hiện thực đời sống.
Văn học nghệ thuật là tấm gương phản chiếu đời sống hiện thực. Một nhà văn sẽ lập tức mờ nhạt khi tác phẩm của anh ấy không là hình dung của hiện thực đời sống. Có thể nói, một tác phẩm văn học có sức sống vững bền theo thời gian hay không là do cái nó phản ánh. Một nhà văn thành công là một nhà văn phải biết tái hiện, khắc họa lại thời đại mà mình đang sống trong những tác phẩm của họ.
Bởi lẽ, một nhà văn không phải là một anh thư ký chỉ biết cặm cụi ghi chép và mô tả lại đời sống mà nhà văn phải là nhà nghiên cứu, nghiền ngẫm về đời sống xã hội và con người. Tác phẩm văn học thể hiện kết quả của quá trình quan sát, trăn trở, lựa chọn và thể hiện về những vấn đề xã hội trong thời đại mà nhà văn đang sống. Tài năng càng lớn, độ suy nghĩ càng sâu thì vấn đề nhà văn phản ánh trong tác phẩm sẽ trở thành vấn đề cơ bản của thời đại, đúng với bản chất xã hội. Nhận thức đúng đắn vai trò của thời đại trong các sáng tác của nhà văn để có thể hiểu rõ, sâu sắc hơn tại sao nhà văn lại lựa chọn phong cách này mà không là phong cách kia, đồng thời nắm được những yếu tố góp phần định hình phong cách của nhà văn.
Trở lại với Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, ta thấy rõ ràng thời đại có tác động mạnh và có sức ảnh hưởng lớn trong việc định hình phong cách của hai nhà văn. Khi xét về thời gian xuất hiện và phát triển sự nghiệp trên văn đàn, Nguyễn Công Hoan là lớp trước, Nam Cao là lớp sau vì vậy việc giới hạn mốc thời gian khảo sát trong giai đoạn 1930 - 1945 đã tạo những thuận lợi nhất định cho người viết khi tìm hiểu về thời đại mà hai nhà văn đã sống. Dân gian có câu: “Thời thế tạo anh hùng”. Vậy “thời thế” mà Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đã sống ở giai đoạn 1930 - 1945 có những điểm nổi bật nào đáng lưu ý? Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức sâu sắc.
Đến thời kỳ này, thực dân Pháp ngày càng phơi trần bộ mặt thâm hiểm và tàn bạo của tên thực dân đi cướp nước. Phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng Châu Á - Thái Bình Dương. Từ 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào công nhân và các phong trào yêu nước ngày càng dâng cao. Thực dân Pháp đã dùng vũ lực và chính sách chuyên chế về chính trị để dập tắt phong trào yêu nước.
Những cuộc bắt bớ, đàn áp, những vụ thảm sát đẫm máu của bọn thực dân ngày càng tăng cao. Có thể kể ra như cuộc đàn áp cực kỳ dã man đối với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc khủng bố trắng có quy mô toàn quốc đầu những năm 30 với 1094 án chính trị, trong đó có 164 bản tử hình mà 88 bản đã thi hành, 114 khổ sai chung thân, 420 người bị đày biệt xứ. Tiếp đến là cuộc khủng bố trắng thứ hai đã diễn ra sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại vào tháng 11 năm 1940. Trong cuộc khủng bố này, Pháp đã huy động không quân, lục quân với 20 máy bay ném 263 quả bom phá, 42 bom lửa đốt cháy nhiều làng mạc.
Tuy bị dìm trong máu lửa nhưng tinh thần của đấu tranh vô cùng dũng cảm của nhân dân ta vẫn không hề bị dập tắt. Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng ra sức bóc lột về kinh tế một cách thô bạo. Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế độc quyền vơ vét biến Việt Nam trở thành một thuộc địa cung cấp nguồn nhân công rẻ mạt, đồng thời là nơi cung cấp nguồn nhiên liệu béo bở cho chính quốc. Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp và phát xít Nhật bắt tay nhau vơ vét đến tận cùng tài nguyên của Việt Nam để phục vụ cho chiến tranh.
Đây là thời đại có những sự kiện biến động quan trọng đáng lưu tâm. Thời kì 1930 - 1945 là khoảng thời gian mà mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam khá nặng nề và sâu sắc. Về mặt chính trị thì đây là giai đoạn thực dân Pháp ra sức tăng cường bóc lột nhằm bù đắp vào những thiệt hại ghê gớm sau thế chiến thứ nhất. Người dân lao động Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
Một mặt họ phải nai lưng làm bán sống bán chết, vắt kiệt sức để có cái ăn, cái mặc; mặt khác, họ phải gồng mình để gánh đủ các thứ thuế có tên và không tên, rồi phải đối mặt với lũ lụt, hạn hán và nạn đói. Đối nghịch với cảnh bị bóc lột đến tận xương tủy, bị đẩy vào cảnh bần cùng hóa và lưu manh hóa của người dân lao động là sự giàu có một cách trâng tráo của quan lại Pháp và tư sản mại bản. Sự đối nghịch này ngày càng làm phân cực rõ nét hơn sự đối lập giàu và nghèo trong xã hội đương thời. Người dân lao động nghèo càng bị bóc lột tận xương tủy thì tư sản quan lại càng giàu có, càng ăn chơi hưởng lạc.
Xã hội thực dân phong kiến ở nông thôn, thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt đang sưng tấy lên ngày càng trầm trọng và khó có thể che dấu được. Con người sống vì đồng tiền, sẵn sàng làm giàu trên mồ hôi, xương máu của đồng loại. Họ sẵn sàng chà đạp lên luân lí, đạo đức để làm giàu. Người bóc lột người.
Thuần phong mỹ tục, những nét đẹp văn hóa ngàn đời của cha ông đã bị giấy bạc làm mờ đi. Thanh niên bị ru ngủ bởi những phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung”, sống xa hoa, thực dụng, trụy lạc, ăn chơi sa đọa, xa rời thuần phong mỹ tục của dân tộc và chẳng màng đến nỗi đau nô lệ, nỗi đau mất nước của dân tộc. Thực dân Pháp không chỉ thực hiện chính sách đàn áp về quân sự, chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế mà còn đầu độc về văn hóa. Đời sống người dân ở thành thị cũng như nông thôn đều rơi vào sự xáo trộn đến bế tắc.
Rõ ràng, thời đại mà Nguyễn Công Hoan và Nam Cao sống là thời đại của một xã hội rối ren, phức tạp, đầy biến động và con người sống trong xã hội ấy cũng ngột ngạt đến khó thở. Tình hình xã hội là vậy. Tình hình văn học cũng có những diễn biến mới. Hiển nhiên, một khuynh hướng văn học bao giờ cũng xuất hiện, hình thành và phát triển trên cơ sở những tiền đề xã hội nhất định.
Và những tiền đề xã hội nêu trên đã làm xuất hiện trên văn đàn văn học công khai một dòng văn học hiện thực phê phán. Giai đoạn 1930 - 1945 là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học hiện thực phê phán. Hiểu rõ bản chất của dòng văn học này ta sẽ thấy được sự đóng góp quan trọng của nó trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc lúc bấy giờ. Chủ nghĩa hiện thực là khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ không tìm đến những thế giới xa lạ mà tìm ngay đến những đối tượng quen thuộc phổ biến trong đời sống hằng ngày, thậm chí là ngay cả ở những mảnh đời tầm thường nhàm chán.
Ở khuynh hướng sáng tác này, đối với người sáng tác, mục đích sáng tác của họ là để phát hiện cái bản chất và quy luật khách quan của đời sống, họ muốn làm khoa học trong văn chương và đặc biệt hứng thú với việc nắm bắt từng chi tiết chính xác của nó. Họ đã bỏ ra nhiều công phu cho tính chân thực này. Sự chân thực của chi tiết là một khía cạnh quan trọng trong chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực phê phán phát triển trên nền của chủ nghĩa hiện thực.
Chủ nghĩa hiện thực phê phán không phụ thuộc ý thức hệ tư sản, mà thiên về phê phán và phủ định hiện thực xã hội tư sản thực dân phong kiến; ca ngợi, khẳng định những lực lượng tiến bộ trong xã hội, những phẩm chất tốt đẹp của người lao động nhưng nhìn họ như những nạn nhân, bất lực, bi quan về lối thoát của xã hội. Các nhà văn hiện thực phê phán quan niệm được “con người xã hội”. Có nghĩa là khi có được tư duy lịch sử - cụ thể họ sẽ đặt con người trong hoàn cảnh xã hội cụ thể rồi triển khai sự phát triển tính cách của nó theo sự diễn biến của hoàn cảnh đó. Nếu hình tượng nhân vật chủ nghĩa cổ điển nặng về cái chung mà nhẹ về cái riêng hay chủ nghĩa lãng mạn thì lại nhấn mạnh cái riêng đến độ phi thường ngoại lệ nhưng lại nhẹ về mặt tiêu biểu khái quát thì tính cách điển hình trong chủ nghĩa hiện thực là sự thống nhất hài hòa cao độ giữa tính riêng sắc nét và tính chung có ý nghĩa khái quát cao, là những nhân vật hoàn toàn xa lạ song qua họ ta lại thấy được “cái quen” rất giống mình và mọi người trong cuộc sống.
Với nguyên tắc lịch sử cụ thể, với quan niệm “con người xã hội”, chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng được những hoàn cảnh điển hình.