Chương 1 TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CUA DE TAL 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn 'Ngôn ngữ nhân vật là một phạm trủ quan trọng của ngôn ngữ truyện ngắn nên đã có rất nhiều công trình đi vào khảo sát phạm trù này. Nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn hiện nay có rất nhiều hình thức, như chuyên luận, giáo trình, luận án, luận văn, bài báo.
và ở nhiều mức độ khác nhau. Trong công trình nỗi tiếng Những vấn dé dhỉ pháp của Đỏ-xtôi-cp-xii, tác giả Bakhtin (1998) da phat hiện ra tính chất đa thanh trong tiểu thuyết của nhà văn xuất sắc trong nền văn học hiện thực Nga thể kỉ XIX - Ðô-xtôi-ep-xki. Tính chất đa thanh 46 có thể biểu hiện ở lời kế của người kể chuyện, nhưng biểu hiện rõ nhất là ở ngôn ngữ của các nhân vật. Mỗi nhân vật văn học không thể có tiếng nói của riêng mình một cách thuần khiết mà bao giờ trong một tiếng nói cũng vang lên "lời người khác”.
Nghiên cứu tính chất đa thanh ở ngôn ngữ tiểu thuyết của Đô-xtôi-ep-xki là một phát hiện mang tính đột phá của Bakhin, mở đường cho những nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật sau này. Ở Việt Nam, trong Dẫn luận thí pháp học, Trần Ð. Sử (2007) cho rằng ngôn. ngữ nhân vật là ngôn ngữ trực tiếp.
Ông khẳng định “Đặc điểm của văn học hiện đại là con người được miêu tả như những cá nhân và do đó lời trực tiếp của nhân vat mang nội dung cá tính, tâm lý cá thể và đặc điểm về giáo dục và địa vị xã hội”, “Nguyên tắc miêu tả lời nói đã cho phép văn học tái hiện lời nói trong tổng thể biểu hiện của con người (động tác, nét mặt, giọng điệu) và trong tổng thể hoạt động nội tâm [.] do đó không nhất thiết khi nào nhân vật cũng nói đủ ý, nói hết lời như trong văn học cổ”. “Theo tác giả, chức năng lời nói thé hiện ở ý nghĩa trực tiếp và cả ý nghĩa hàm ẩn (một biện pháp thể hiện tâm lý) và hình thức lời nói của nhân vật gồm: đối thoại để che day đối thoại bên ngoài song song với đối thoại bên trong; lời nói trong — ý định được công bố cùng với lời nói ngoài; đối thoại rời rạc, thể hiện trạng thái nhân sinh; đối thoại mà không hiểu ý nghĩa của đối thoại. Những nội dung về ngôn ngữ nhân vật mà Trần Ð. Sử (2007) kết luận là theo hướng khám phá đặc điểm của văn học hiện đại nên trở thành cơ sở lý thuyết rắt hữu ích cho các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ sau này.
Nhìn bao quát, ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn đã được quan tâm nghiên. cứu từ nhiều góc nhìn lý thuyết ngôn ngữ học khác nhau. Hương (2007) trong luận văn Từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao đã tìm hiễu ngôn ngữ hội thoại giữa vai trao ai đáp lời, từ đó đi sâu nghiên cứu từ xưng hô trong sự tương tác của chúng qua lời thoại nhân vật tong truyện ngắn của Nam Cao. Luận văn Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của "Nguyễn T.
Én (2007) đã làm rõ đặc điểm lời thoại nhân vật qua nghiên cứu hành đông ngôn ngữ nhận xét đánh giá, cầu khiến, trần thuật và ngữ nghĩa của lời thoại. Luận văn Biéu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 của Văn T. Nga (2010) thì bên cạnh nghiên cứu về vai xã hội còn phân tích nội dung và chiến lược giao tiếp thông qua hành động hỏi của nhân vật nữ trong nguyện ngắn sau 1975. Luận văn Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Ti.
của tác giả Nguyễn T. Chuyên (2010) đã rút ra giá trị của lời thoại nhân vật rất xác đáng qua việc làm rõ đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật ở các phương diện ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa và cú pháp. Nhung (2011) trong luận văn Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Hỏ Anh Thái cũng đã đi sâu nghiên cứu lời thoại nhân vật qua các hành động ngôn ngữ để rút ra nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ của Hỗ Anh Thái. Hing (2013) trong bài biết Diễn ngôn hội thoại và độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao đã thống kê, phân tích ngữ liệu và đưa đến kết luận: “Nhà văn đã rất có ý thức và hết sức khéo léo, chắc tay trong việc sử dụng các diỄn ngôn đối thoại và độc thoại nội tâm như một phương tiện hữu hiệu để kể, tả và khắc họa tính cách nhân vật.
Yến (2014) trong luận án Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chiti qua Idi thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam thì đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các kiểu dạng hành động chửi trong lời thoại của nhân vật để chỉ ra một số đặc trưng văn hóa ứng xử của người Việt trong việc sử dụng hành động chửi. 'Qua đó, luân án góp phần chỉ ra môt số biểu hiên về nghệ thi sử dung ngôn từ của nhà văn. Luận văn Ngồn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Phan Thi Vang Anh của Lê T. Lý (2015), ở chương nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật, tác giả cũng đã đi tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật qua cách tổ chức lời thoại của nhân vật và các hành động ngôn ngữ tiêu biểu của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, như: hành đông chất vấn, hành đông trách, hành đông từ chối.
Điệp (2016) ở bài viết Diễn ngôn nhân vật trong nhóm truyện ngắn thế sự của Nguyễn Huy Thiệp đã khảo sát diễn ngôn đối thoại và độc thoại trong nhóm truyện ngắn th sự của Nguyễn Huy “Thiệp và kết luận: “Từ việc xây dựng lời thoại nhân vật với những điểm riêng và khá đặc biệt, đã góp phin làm nên một Nguyễn Huy Thiệp - một ngôi sao sắng trên diễn đàn văn học vào những năm đầu của nền văn học đổi mới”. Hợp (2021) trong luận văn Ngồn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Trí thì khảo sát, phân tích đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Trí trên bình diện từ ngữ và câu để đánh giá ngôn ngữ nhân vật - một phương diện quan trong trong nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Tư. hin chung, ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn đã được khảo sát và phân tích ở rất nhiều phương diện như: phương diện ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa và cú pháp, hành động ngôn ngữ, cách tổ chức lời thoại của nhân vật. Và dù được khám phá ở góc độ nào thì ngôn ngữ nhân vật cũng được đánh giá là phương điện quan trọng trong nghệ thuật viết truyện ngắn của nhả văn.
Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Với vị trí quan trong trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, Nguyễn Minh Châu và sáng tác của ông nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của rất nhiều nhà lý luận phê bình văn học và cả những sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Hoàn và Nguyễn Ð. Khuông (2002) thống kê trong Nguyễn Minh Châu ~ vé tác giá và tác phẩm thì có đến 150 bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật và những tác phẩm cụ thể của Nguyễn Minh Châu. 'Về truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, có rất nhiều tác giả tìm hiểu, nghiên cứu và luận bàn.
Khảo sát bài viết về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều bài viết ea ngợi sing tác của nhà văn trên các phương, diện: nhân vật, tình huống truyện, cốt truyện, nghệ thuật kể chuyện. Riêng phương diện ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, có một số công trình nghiên cứu nỗi bật như: Nguyễn T. Nguyên (1995) trong bài viết Những đổi mới vẻ thĩ pháp trong sắng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã đánh giá gon ngữ truyện ngắn của "Nguyễn Minh Châu như sau: Rõ rằng "chủ nghĩa độc thoại là không đủ” (Bakhn) và hiện thực mới đang đòi hỏi nhà văn đối diện với nó và đối thoại với những người đồng. thời với mình về những vấn đề thực tế, về tương lai.
Trong sing tác của Nguyễn Minh Châu thời kì này, ngôn ngữ phức điệu và đa thanh điệu ngày cing được gia tăng và trở nên hoàn hảo hơn, đó là sự đan chéo của nhiều đối thoại và đối thoại bên trong tâm linh sâu thẳm của nhân vật. Lan trong công trình Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đã có những nghiên cứu về Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và nêu một số kết luận sau: “Nguyễn Minh Châu là nhà văn rất có ý thức trong việc nâng cấp nghệ thuật cho ngôn ngữ trong tác phẩm của mình. Văn ông giàu hình ảnh với từ ngữ trau chui sống động và kết cấu câu đa dạng”; “Ngôn ngữ được nuôi dưỡng trong lông tiếng nổi của đời sống nên gần gũi với cuộc sống dầu rằng đó là thứ ngôn ngữ được tỉnh lọc”. Luận án Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu của Đỗ T.
Hiên (2007) đã làm rõ hai phương. n ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, đó là ngôn ngữ kể chuyên mang phong cách sinh hoạt đời thường và ngôn ngữ đối thoại có tính chất đa thanh. Trong bài viết Ngôn ngữ người kế chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Chiếc thuyển ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, tác giả Cao X. Hải (2013) đã khẳng định: Việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyên sắc sảo hip dẫn, Nguyễn Minh Châu tạo ra cho sắng tác của mình một thứ ngôn ngữ khách quan, chân thực, sâu sắc và thuyết phục.
Ngôn ngữ của nhân vật phủ hợp với đặc điểm tinh cách của nhân vật. Việc sử dụng ngôn ngữ sáng tạo, linh hoạt đã góp phần làm. nên thành công của Nguyễn Minh Châu trong "Chiếc thuyền ngoài xa” nói rigng, trong sing tác của ông sau 1975 nói chung. Hương (2015) trong Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Cñâu sau 1975 đã tìm ra những đổi mới \ghệ thuật vả đặc trưng ngôn ngữ trong truyện ngắn của nhà văn này, đồng thời làm rõ những phương điện, đặc trưng ngôn ngữ quan trọng tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sáng tác sau 1975.
Qua đó khẳng định những đóng góp quý giá của Nguyễn Minh.