CHƯƠNG I: MỘT SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG, MỘT CÂY BÚT TRUYỆN NGẮN TÀI HOA 1. Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai Lan Khai luôn ghi tâm khắc cốt lời dặn của thầy lấy từ câu nói nổi tiếng của một danh sĩ Pháp: “Một dân tộc dù mất quyền tự do, dù nô lệ mà còn giữ được tiếng nói tức là còn giữ được cái lợi khí tháo cũi, xổ lồng cho mình” [37: 30]. Và lời dặn dò ấy đã trở thành máu thịt suốt đời của nghệ sĩ Lan Khai. Ông thuộc lớp nhà văn trưởng thành trong thời kì văn học dân tộc có sự giao thoa mạnh mẽ với văn hóa phương Tây.
Là người luôn luôn cầu thị trong học hỏi và sáng tạo, ông đã nhanh chóng tiếp nhận nền mĩ học phương Tây để làm giàu thêm tri thức nghệ thuật và có những quan niệm nghệ thuật mới mẻ, tiến bộ. Quan niệm nghệ thuật ấy của Lan Khai được thể hiện chủ yếu qua những bài viết, chuyên luận, phê bình, đan xen trong một số tác phẩm nghệ thuật, tập trung ở hai bình diện: quan niệm về nhà văn và văn chương. Trong quan niệm về nhà văn, ông có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vị trí, thiên chức và phẩm chất của nhà văn đối với cuộc sống và nghệ thuật. Trong xã hội thuộc địa, Lan Khai đặc biệt đề cao tinh thần dân tộc đối với nhà văn.
Theo ông, nhà văn phải mang trong mình dòng máu dân tộc, là sợi dây liên lạc tâm hồn con người, phải hiểu biết sâu sắc về truyền thống yêu nước và văn hiến cao đẹp của tổ tiên. Khi thấu hiểu về truyền thống dân tộc, nhà văn phải là nhà giáo dục: “Cái thiên chức của chúng ta là truyền giao dĩ vãng cho tương lai. Bằng cách nào? Bằng cách nhận chân và phát huy các khả năng của nòi giống tiềm tàng trong mình ta để dùng làm hồ, làm vữa tạo nên lớp người sau này có thể giúp ích cho nhân loại” [32: 45]. Ông đã sớm đề cao vấn đề giữ gìn tinh hoa bản sắc dân tộc.
Trong Cái nguy mất gốc, Lan khai viết: “Cái ách nạn đáng sợ nhất cho một dân tộc chính là sự thôn tính về tinh thần” [32: 46]. Muốn cho văn chương có sức sống lâu dài, nhà văn không chỉ 18 chú ý nội dung hay mà cần tạo ra hình thức đẹp. Trong bài Một quan niệm về văn chương đăng trên tạp chí Tao Đàn số 7-1939, Lan Khai đề cao ý thức trau dồi ngôn ngữ của người cầm bút và yêu cầu nhà văn cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đồng thời ông cũng đề cao những cái độc đáo của nhà văn: “Văn tức là người, cái đặc sắc của văn sĩ chính là cái riêng để diễn tả tư tưởng và tình cảm của mình vậy” [32: 46].
Trong hoàn cảnh “cơm áo không đùa với khách thơ”, người nghệ sĩ luôn phải đối mặt với cuộc sống áo cơm ghì sát đất nên không ít người bị nô dịch về tinh thần, phải bán rẻ ngòi bút của mình. Trong bài Tài hoa… cái lụy ngàn đời (1934), ông đã nói lên thực tế phũ phàng của những người cầm bút đương thời. Trong Mực mài nước mắt (1941), Lan Khai coi nhà văn như nguồn ánh sáng trí tuệ, nhưng phải được tự do sáng tác: “Sự độc lập của ngòi bút là một cái gì cần được tôn trọng.” và “Kể trong ngàn vạn trạng thái nô lệ, sự nô lệ tinh thần là cái nguy hiểm nhất bởi khó gỡ”. Trong xã hội thuộc địa, Lan khai nêu vấn đề Cách mạng về văn nghệ: “Ta phải tạo ra tương lai, chính thế! Bằng cách nào? Bằng cách phá hoại cho bằng hết những ảnh hưởng còn sót lại ở ta của cái thế giới cũ, và tự biến đổi ta thành những người mới, khả dĩ ứng dụng cho sự xây dựng một tân văn hoá” [32: 46].
Quan niệm phê bình của Lan Khai luôn gắn liền văn và đời. Lan Khai cũng phê phán lối viết văn sáo mòn giả dối của nhiều cây bút đương thời: “Đa số các thi sĩ văn sĩ chỉ nhai lại cổ nhân chẳng khác con trâu nhai lại cỏ”. Tệ hại hơn: “Họ đã tô son điểm phấn cho những thực trạng xấu xa để tự lừa mình và lừa người”. Từ đó ông đề ra nhiệm vụ cho người cầm bút: “Chúng ta phải bắt đầu học lấy thói thù ghét những cái gì bất công, vô nhân đạo!” [32: 46].
19 Trong quan niệm về văn chương, Lan Khai xem văn chương là sự biểu hiện tư tưởng, tình cảm, con người là trung tâm, là thước đo của sự phản ánh nghệ thuật. Ông cho rằng con người là trung tâm của mọi sự phản ánh nghệ thuật, cho dù nhà văn sáng tác bằng phương pháp nào. Sức sống lâu bền của nghệ thuật là ở tính chân thực: “Diễn tả cho đúng hệt con người, nghệ thuật văn chương đã đạt được mục đích, và do đấy có thể trở nên thứ nghệ thuật văn chương muôn đời vậy. Ông cũng cho rằng nghệ thuật bắt nguồn từ tình cảm và tình yêu là một trạng thái đặc biệt của tâm hồn.
Về mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, Lan Khai cho thấy chính trị có khi cũng cần cho văn chương, nhưng văn chương có sứ mệnh lâu dài, mục tiêu cao cả của nó là biểu hiện con người: “Nhà văn chỉ cần cho văn chương của mình một đối tượng duy nhất: Người, con người trước thời gian và vũ trụ” [32:50]. Do đó, Lan Khai là nhà văn Việt Nam đầu tiên nêu vấn đề: “Quan niệm nghệ thuật của nhà văn là quan niệm nghệ thuật về con người, tương đồng với nhận thức của chúng ta hôm nay. Song văn chương hay phải gắn liền với phong cách. Đã đành mỗi nhà văn phải có một đặc tính và công chúng chỉ ưa nhà văn nào mà công chúng có thể tóm tắt cái sở trường bằng một câu ngắn gọn.
Ví dụ, nói tới Nguyễn Công Hoan, người ta phải nói đến sự hài hước. Nói đến Khái Hưng, người ta phải nhớ đến tình thương và sự vui sống, lúc nào cũng dịu dàng. Theo ông, sức hấp dẫn của văn chương từ những điều nhỏ bé của cuộc sống mà nhà văn “nhận xét và ghi chép những ý tưởng và những xúc động hồn nhiên của tâm trí con người”. Ông luôn quan tâm tới vai trò của ngôn từ nghệ thuật: “(…) chỉ thứ văn chương nào trau chuốt, lọc lõi, đẹp đẽ 20 là mới có thể sống lâu mà thôi”.
Văn chương hay phải mang hồn dân tộc “nó đi thẳng vào tâm hồn Việt Nam của chúng ta. Lan Khai kiên quyết chống lại chủ nghĩa hình thức và sự nhàm chán trong sáng tác. Ông cũng khẳng định sức mạnh của văn chương còn ở nhiệt tình phê phán xã hội thối nát. Đó chính là tiếng nói mới của người nghệ sĩ.
Về cái đẹp, theo tác giả: Cái đẹp là cái có thực và có phạm vi rộng (con người, thiên nhiên và nghệ thuật) và khó định nghĩa đầy đủ về nó. Cần phân biệt cái đẹp với các phạm trù khác như: sở thích, cái hữu ích, cái thực, cái thiện, quan hệ âm dương. Theo ông: Cái đẹp không lẫn với cái thiện với cái thực, cái hữu ích và cái thích. Việc phân tích hệ thống quan niệm của các tác giả mỹ học trên thế giới, làm sáng tỏ: Cái đẹp nằm ở trong bản thân cuộc sống muôn màu và trong nghệ thuật, tác động tới ý thức và tâm hồn con người.
Sáng tạo nghệ thuật là nhu cầu biểu hiện cái đẹp của người nghệ sĩ. Về quan niệm nghệ thuật, theo ông nghệ thuật liên quan với du hý nhưng phức tạp tế nhị hơn, vì nghệ thuật mang tính hình tượng. Theo ông thì nghệ sĩ phải là người sáng tạo, thiên tài có óc tưởng tượng mãnh liệt và đi trước thời đại, sự xuất hiện thiên tài không thể lường trước được. Về phương pháp sáng tác, ông cho rằng: chủ nghĩa lãng mạn là một quan niệm siêu hình, thiếu sự sống và mơ hồ.
Chủ nghĩa hiện thực sẽ vô bổ nếu mô tả đúng hoàn toàn thực tại vì thực tại phong phú hơn nghệ thuật. Theo ông nên dung hòa cả hai thuyết lý tưởng và tả thực. Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai là sự thống nhất của tài năng và vốn sống, tâm hồn và trí tuệ, tư tưởng và văn hóa, cùng với sự chi phối của thời đại lịch sử và năng lực hoạt động của nhà văn được phản ánh sinh động trong sáng tác, nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học. Nhìn lại những di sản tinh thần của Lan Khai giữa thời kỳ vận nước trong cơn dâu bể, ta thấy ánh 21 lên bao nỗi niềm trăn trở ưu tư cùng những khát vọng của người nghệ sĩ giàu tâm huyết: Làm sao bảo tồn và phát huy được những tinh hoa của truyền thống Việt Nam? Làm sao có được những văn nhân thi sĩ xứng đáng với dân tộc và thời đại? Làm sao để xây dựng được một nền văn hoá mới cho tương lai đất nước? Tất cả được chứng minh bằng hàng ngàn trang viết mang trí tuệ và tâm hồn của người nghệ sĩ.
Một sự nghiệp văn chương đồ sộ Thuở thiếu thời, Nguyễn Đình Khải có một niềm đam mê hội họa, anh từng mang khát vọng “làm một họa sĩ để vẽ lại tất cả buồn vui của cuộc đời” và từ chối “làm ông Thông ông Ký” chấp nhận cái nghèo để được tự do. Khi quyết định từ giã con đường y nghiệp của tổ tiên, Khải đã tuyên thề “anh sẽ làm một nhà tiểu thuyết”, ước muốn đó đã đưa anh dấn thân vào cái “nghiệp chướng văn chương”. Năm 1928, Lan Khai ghi dấu ấn vào làng tiểu thuyết với đề tài tâm lý xã hội, mở màn bằng cuốn ái tình tiểu thuyết Nước hồ Gươm (1928). Từ năm 1928 đến năm 1945, ông đã cho ra đời một khối lượng tiểu thuyết đồ sộ: Cô Dung (1928- 1938), Lầm than (1929- 1934), Liếp Ly (1938), Sóng lúa reo (1938), Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Tội nhân hay nạn nhân (1941), Tội và thương (1942), Mưa xuân (1942-1943) v.
Đó là những bức tranh từ nông thôn đến thành thị, hầm mỏ, nhà trường với những cảnh đời và số phận riêng. Tác phẩm có sự phối hợp linh hoạt giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, làm sống dậy chiều sâu về đời sống nội tâm phức tạp của con người “thời kỳ Âu hóa” đầu thế kỷ XX. Tiểu thuyết tâm lý - xã hội của Lan Khai đã mở ra những bức tranh sâu rộng về những con người và cảnh ngộ khác nhau. Mỗi câu chuyện đặt ra một vấn đề bức thiết từ cuộc sống.
Đó là những câu chuyện giàu tính hiện thực chứng tỏ vốn sống phong phú của nhà văn.