SKKN: Hướng dẫn học sinh làm bài so sánh nghị luận văn học Ngữ văn 12

SKKN Ngữ văn 12: Hướng dẫn chi tiết cách làm bài so sánh nghị luận văn học. Tổng hợp các dạng bài, ví dụ minh họa và phương pháp đạt điểm tối đa.

Trường đại học

Trường THPT Yên Thành 2

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2024-2025

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của dạng bài So sánh văn học 12

So sánh văn học 12 là dạng bài tập nghị luận văn học yêu cầu học sinh phân tích và đối chiếu hai tác phẩm, nhân vật hoặc yếu tố văn học khác nhau. Đây là dạng bài mới trong chương trình GDPT 2018, phù hợp với định hướng đánh giá năng lực của học sinh hiện đại. Bài tập so sánh không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá và vận dụng sáng tạo. Tầm quan trọng của dạng bài này thể hiện ở chỗ nó thường xuất hiện trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi, thi tốt nghiệp THPT, và kiểm tra định kỳ. Nắm vững hướng dẫn chi tiết A-Z về dạng bài này sẽ giúp học sinh tự tin và đạt điểm cao hơn.

1.1. Định nghĩa dạng bài So sánh văn học

So sánh văn học là quá trình đối chiếu các yếu tố giống nhau và khác nhau giữa hai tác phẩm, nhân vật, chi tiết hoặc đoạn văn. Dạng bài này yêu cầu học sinh không chỉ tìm ra những điểm tương đồng mà còn chỉ ra sự khác biệt, từ đó rút ra nhận xét toàn diện. Mục đích của so sánh văn học là giúp học sinh hiểu sâu hơn về bản chất tác phẩm, cách sáng tác của tác giả, và giá trị của tác phẩm trong văn học.

1.2. Vị trí và vai trò trong chương trình Ngữ văn 12

Trong chương trình GDPT 2018, so sánh văn học được xem là một thành phần quan trọng của phần nghị luận văn học. Dạng bài này giúp đánh giá năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp của học sinh ở mức độ cao. Bài tập so sánh thường xuất hiện trong các bài kiểm tra khó, kỳ thi chọn học sinh giỏi, và thi tốt nghiệp THPT, vì vậy nó có vai trò quyết định đến kết quả học tập của học sinh.

II. Các hướng So sánh chính trong Văn học 12

Dạng bài so sánh văn học 12 chia thành nhiều hướng khác nhau, mỗi hướng có đặc điểm riêng và yêu cầu cách làm khác nhau. Hướng thứ nhất tập trung vào việc so sánh và đánh giá trực tiếp hai tác phẩm, hai nhân vật, hai chi tiết hoặc hai đoạn văn cụ thể. Hướng thứ hai đòi hỏi học sinh phải vận dụng so sánh hai tác phẩm để làm sáng tỏ một ý kiến, quan điểm bàn luận về văn học. Hiểu rõ các hướng này sẽ giúp học sinh có kế hoạch ôn tập hiệu quả và xác định đúng phương pháp làm bài cho từng dạng so sánh cụ thể.

2.1. So sánh hai tác phẩm nhân vật và chi tiết

So sánh hai tác phẩm có thể là so sánh hai truyện, hai tác phẩm thơ, hai kịch hoặc hai thể loại khác nhau. So sánh nhân vật yêu cầu phân tích tính cách, hoàn cảnh, hành động của hai nhân vật để tìm ra điểm giống và khác. So sánh chi tiết, đoạn văn, cách kết thúc giúp học sinh hiểu sâu hơn về kỹ thuật sáng tác, cách tác giả xây dựng tác phẩm. Các hình so sánh này rất phong phú và đa dạng, bao phủ toàn bộ chương trình văn học 12.

2.2. So sánh để làm sáng tỏ ý kiến bàn luận

Hướng so sánh thứ hai yêu cầu học sinh vận dụng phép so sánh hai tác phẩm, hai nhân vật để chứng minh, bình luận về một ý kiến, quan điểm về văn học. Ví dụ, so sánh nhân vật Vũ Nương trong 'Kiều' với nhân vật khác để chứng minh tính cách độc lập của nữ nhân vật. Dạng so sánh này đòi hỏi học sinh phải có tư duy biện luận mạnh, khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học.

III. Hướng dẫn chi tiết cách làm bài So sánh văn học A Z

Để làm tốt bài tập so sánh văn học, học sinh cần tuân thủ một quy trình rõ ràng từ A đến Z. Bước đầu tiên là đọc kỹ đề bài, xác định rõ hai đối tượng so sánh (tác phẩm, nhân vật hay chi tiết). Tiếp theo, liệt kê những điểm giống và khác giữa hai đối tượng dựa trên các yếu tố như nội dung, hình tượng, kỹ thuật sáng tác. Bước thứ ba là xây dựng dàn bài có cấu trúc rõ ràng với mở bài, thân bài và kết bài hợp logic. Thân bài nên chia thành các đoạn riêng biệt, mỗi đoạn tập trung vào một khía cạnh so sánh cụ thể. Cuối cùng, viết bài cần sử dụng những cấu trúc ngôn ngữ phù hợp để thể hiện sự so sánh, đối chiếu một cách rõ ràng và thuyết phục.

3.1. Bước 1 3 Đọc đề liệt kê xây dựng dàn bài

Bước 1: Đọc đề bài ít nhất hai lần, gạch chân từ khóa, xác định rõ hai đối tượng so sánh. Bước 2: Liệt kê những điểm giống và khác, có thể vẽ bảng để dễ hình dung. Bước 3: Xây dựng dàn bài chi tiết với mở bài nêu vấn đề, thân bài chia thành các phần so sánh (từng khía cạnh một), kết bài tổng kết. Dàn bài cần có tính logic, dễ theo dõi.

3.2. Bước 4 5 Viết bài và hoàn thiện

Bước 4: Viết bài theo dàn bài đã xây dựng, sử dụng các từ nối so sánh như 'giống như', 'khác với', 'tương tự', 'trái lại', 'cả hai'. Bước 5: Kiểm tra lại bài viết, đảm bảo logic, ngôn ngữ chính xác, không có lỗi chính tả. Đảm bảo bài viết rõ ràng, có tính thuyết phục và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đề bài.

IV. Ví dụ minh họa và mẹo làm bài So sánh văn học 12 hiệu quả

Để giúp học sinh nắm vững cách làm bài so sánh văn học, các ví dụ minh họa cụ thể rất cần thiết. Ví dụ, khi so sánh nhân vật Kiều trong 'Truyện Kiều' của Nguyễn Du với nhân vật Tố Tài trong 'Vợ chồng A Phủ' của Tế Hanh, học sinh cần chỉ ra: cả hai đều là nữ nhân vật bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh xã hội, nhưng Kiều chịu nước ngoài nhiều hơn còn Tố Tài đấu tranh chống lại sự áp bức. Một số mẹo làm bài hiệu quả bao gồm: sử dụng các từ nối so sánh thích hợp, trích dẫn cụ thể từ tác phẩm, tránh những nhận xét chung chung, luôn nêu rõ cơ sở lập luận. Với những kỹ năng này, học sinh sẽ tự tin hơn khi gặp dạng bài so sánh văn học 12 trong các kỳ thi.

4.1. Ví dụ so sánh hai nhân vật và hai tác phẩm

Ví dụ 1: So sánh nhân vật Kiều (Truyện Kiều) và Tố Tài (Vợ chồng A Phủ) - cả hai là nữ nhân vật chịu cảnh ngộ buồn nhưng có cách đối mặt khác nhau. Ví dụ 2: So sánh tác phẩm 'Tắt đèn' của Ngô Tất Tố và 'Số đỏ' của Vũ Trọng Phụng - cả hai phản ánh xã hội Việt Nam thế kỷ XX nhưng với góc nhìn khác. Những ví dụ minh họa này giúp học sinh hiểu rõ hơn cách triển khai bài so sánh.

4.2. Các mẹo và kỹ thuật làm bài hiệu quả

Mẹo 1: Luôn sử dụng các từ nối so sánh (giống như, khác với, tương tự, trái lại) để làm rõ sự đối chiếu. Mẹo 2: Trích dẫn cụ thể từ tác phẩm để chứng minh ý kiến của mình. Mẹo 3: Tránh những nhận xét chung chung, luôn nêu rõ cơ sở lập luận. Mẹo 4: Tổ chức bài viết theo từng khía cạnh so sánh (nội dung, hình tượng, kỹ thuật sáng tác). Những kỹ thuật này sẽ giúp học sinh viết bài so sánh tốt hơn và đạt điểm cao.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề so sánh trong quá trình dạy học chưa thường xuyên. Vì vậy, nhiều giáo viên khá túng túng khi định hướng cho học sinh trong quá trình dạy học, ôn tập về dạng bài tập so sánh. Học tập của học sinh Trong quá trình học tập, kiểm tra đánh giá, nhiều học sinh đã có ý thức liên hệ so sánh để làm nổi bật vấn đề. Các em cũng được tiếp cận với một số bài tập so sánh trong quá trình học tập và kiểm tra đánh giá.

Tuy vậy, việc làm này chưa thường xuyên, chưa trở thành kĩ năng với các em, nhất là học sinh đại trà. Vì vậy, các em sẽ gặp khó khăn khi giải quyết dạng bài tập so sánh. Do đó, hướng dẫn học sinh cách làm dạng bài tập so sánh là điều hết sức cần thiết. Tài liệu tham khảo Khi nghiên cứu ba bộ Sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh Diều; một số sách thiết kế bài học hiện hành, một số tài liệu hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn (Biên soạn theo chương trình GDPT 2018), tôi nhận thấy: Các tài liệu đã có những định hướng cụ thể về phương pháp, tiến trình giờ dạy.

Những định hướng đó giúp ích cho giáo viên rất nhiều trong quá trình dạy học. Các thiết kế bài dạy và hoạt động dạy học đã chú ý đến vai trò chủ thể trung tâm của học sinh. Điều này được thể hiện ở việc chuyển giao nhiệm vụ học tập cho các em bằng hệ thống câu hỏi/bài tập khá hợp lí, vì vậy trong giờ học, học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. Tuy vậy, dạng bài tập so sánh xuất hiện trong các tiết dạy học về đọc, viết, nói và nghe còn mờ nhạt, chưa có tính hệ thống, chưa tương xứng với vai trò, vị trí và ý nghĩa của dạng bài tập này.

So với chương trình cũ, sách giáo khoa Ngữ văn 12 GDPT 2018 đã đưa kiểu bài bài nghị luận so sánh văn học vào chương trình nhưng còn chung chung và chưa đầy đủ. Thực tế, kiểu bài này rất đa dạng nhưng cả ba bộ sách Ngữ văn 12 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Cánh diều và Chân trời sáng tạo) chỉ xây 4 dựng cho hai kiểu bài: So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí, kịch; So sánh đánh giá hai tác phẩm thơ. Phần hướng dẫn cách làm ở cả ba bộ sách cũng chỉ chung chung cho dạng bài này. Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh cách làm dạng bài so sánh là điều rất cần thiết, góp phần hình thành các năng lực vận dụng, giải quyết vấn đề, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy, kĩ năng làm văn nghị luận văn học để chuẩn bị cho các em bước vào các kì thi chọn học sinh giỏi, kì thi tốt nghiệp THPT.

Kiểm tra, đánh giá Để việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực thực sự có hiệu quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trương đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực: không lấy việc kiểm tra chuẩn kiến thức và kĩ năng đã học làm trung tâm mà chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức kĩ năng vào những tình huống khác nhau; hướng tới làm phong phú và mở rộng cuộc sống cá nhân của học sinh; kết nối những vấn đề được học với thực tiễn; giúp học sinh có cơ hội bộc lộ quan điểm và cách cảm nhận cá nhân, phát triển tư duy sáng tạo. Trong những năm gần đây, hoạt động kiểm tra, đánh giá đã có những chuyển biến rõ rệt. Đó là sự chuyển dần từ kiểm tra ghi nhớ, tái hiện kiến thức sang kiểm tra vận dụng kiến thức. Trong đề thi của mấy năm trở lại đây, dạng so sánh xuất hiện khá đa dạng.

Dạng bài tập này đã xuất hiện khá nhiều trong các bài kiểm tra định kì, các kì thi học sinh giỏi. Trong sách giáo khoa Ngữ văn của lớp 10 và lớp 11 xuất hiện một số bài tập so sánh; lớp 12 học sinh được học về dạng bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí, kich; so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ. Tuy vậy, trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn GDPT 2018 lại chưa bao quát hết các dạng bài so sánh; các bài tập so sánh còn ít, chưa phân loại cụ thể, chưa có tính hệ thống; chưa hướng dẫn đầy đủ, chi tiết cách làm dạng bài này. Chính vì vậy, các em rất lúng túng khi đứng trước dạng bài so sánh văn học.

Nhiều giáo viên cũng boăn khoăn về phương pháp làm bài cũng như gặp nhiều khó khăn khi xây dựng các bài tập so sánh, nhất là đối với những giáo viên ít kinh nghiệm. HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM DẠNG BÀI TẬP SO SÁNH Ở MÔN NGỮ VĂN 12 (CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018) So sánh là một thao tác rất cơ bản của tư duy. Trong nghiên cứu văn học, các nhà khoa học cũng thường sử dụng thao tác so sánh. Khái niệm so sánh văn học cần được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau.

Thứ nhất, so sánh văn học là một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn. Thứ hai, so sánh là một thao tác lập luận. Thứ ba, so sánh là một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận. Đây là một kiểu bài nghị luận.

Ở đây, đề tài đề cập đến so sánh với tư cách là một kiểu bài nghị luận. So sánh hai tác phẩm văn học nhằm làm rõ một quy luật chung nào đó hay để nhìn nhận sâu hơn giá trị của từng tác phẩm. Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu 5 thực hiện cách thức so sánh trên nhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, nội dung cảm hứng. Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữ các tác phẩm của những trào lưu, xu hướng, trường phái khác nhau của một nền văn học.

Các tiêu chí so sánh có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giả những điểm giống và khác nhau cũng cần phải phù hợp với năng lực của các em. Trong đề tài này, người viết nghiên cứu dạng bài tập so sánh theo hai hướng chủ yếu: hướng thứ nhất là so sánh, đánh giá hai tác phẩm; hướng thứ hai là so sánh, đánh giá hai tác phẩm để làm rõ một nhận định văn học. Dạng bài so sánh đều có những cách triển khai giống nhau. Song xuất phát từ đặc trưng của từng đối tượng so sánh (đối tượng so sánh thuộc thể loại tác phẩm nào), chúng ta cần phải dựa trên những đặc trưng cụ thể của từng thể loại ấy để vận dụng linh hoạt.

Vì vậy, ở từng dạng bài so sánh cụ thể, người viết đề xuất một số cách làm bài cụ thể hơn trên cơ sở định hướng làm bài chung của dạng bài này. Hướng thứ nhất: so sánh, đánh giá hai tác phẩm Kiểu bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm khá đa dạng, gồm các dạng cơ bản: so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện; so sánh đánh giá hai tác phẩm thơ; so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí; so sánh, đánh giá hai tác phẩm kịch và so sánh đánh giá hai tác phẩm thuộc hai thể loại khác nhau. So sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện Dạng bài này là yêu cầu học sinh xác định được mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện; trình bày được các thông tin khái quát về hai tác phẩm truyện; làm rõ được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm truyện trên một số phương diện nội dung và hình thức cụ thể, theo mục đích và phạm vi đã xác định (cách xây dựng nhân vật, cách kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, lời người kể chuyện, lời nhân vật,.); rút ra được những nhận xét, đánh giá cần thiết, phù hợp về hai tức phẩm truyện căn cứ vào kết quả so sánh; nêu được ý nghĩa của việc đánh giá hai tác phẩm truyện thông qua việc so sánh. So sánh, đánh giá hai nhân vật “Nhân vật là trụ cột của tác phẩm” (Tô Hoài).

Vì vậy, so sánh hai nhân vật trong tác phẩm truyện có ý nghĩa quan trọng trong việc khám phá nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các tác phẩm. Có thể so sánh, đánh giá hai nhân vật trong hai tác phẩm của một tác giả để thấy rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn hoặc so sánh giữa hai nhân vật trong hai tác phẩm của hai tác giả cùng hoặc khác giai đoạn, khuynh hướng văn học để thấy được sự tương đồng và sự khác biệt trong phong cách của từng tác giả, của từng giai đoạn, từng khuynh hướng văn học. 6 Một số bài tập minh họa Bài tập 1.Trong truyện Giăng sáng, Nam Cao viết về nhân vật Điền như sau: Đó là một cái mộng văn chương. Đã có một thời, Điền chăm chỉ đọc sách, viết văn.

Điền nao nức muốn trở nên một văn sĩ, Điền nguyện sẽ cam chịu tất cả những thiếu thốn, đoạ đày mà văn nhân nước mình phải chịu. Điền vẫn thường bảo với một người bạn cùng chí hướng: Điền sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn… Nhưng viết luôn mấy năm trời, Điền chẳng kiết được đồng nào. Trong khi ấy Điền vẫn phải ăn. Nhà Điển kiết xác xơ.

Các em Điền không được đi học. Mà cũng không được ăn no nữa. Sự túng thiếu đưa đến bao nhiêu là lục đục. Bố Điền bỏ nhà đi.

Mẹ Điền gồng thuê, gánh mướn kiếm tiến nuôi hai đứa con thơ.] Điền thấy mình ích kỉ. Sự nghiệp mà làm gì nữa? Bổn phận Điển phải nghĩ đến gia đình. Điển phải gây dựng lại gia đình! Điền phải tạm quên cái mộng văn chương để kiếm tiền. (Nam Cao, Giăng sáng, in trong Nam Cao- Truyện ngăn tuyển chọn, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr.

215 -216) Còn đây là nhân vật Hộ trong truyện Đời thừa của Nam Cao: Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Đói rét không nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuối say mê lí tưởng.

Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ