Luận án tiến sĩ: Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay - Đỗ Thị Thu Huyền

Luận án tiến sĩ chuyên sâu phân tích thơ dân tộc Tày trong giai đoạn từ 1945 đến hiện tại, với cái nhìn toàn diện về sự biến đổi và đóng góp của văn học Tày

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2013

165
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay

Thơ dân tộc Tày là một bộ phận quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Từ năm 1945 đến nay, dòng thơ này đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển đáng chú ý. Đội ngũ nhà thơ Tày luôn chiếm số lượng đông đảo nhất trong các dân tộc thiểu số. Họ tạo nên một phong cách riêng, thống nhất trong đa dạng. Bốn thế hệ nhà thơ đã nối tiếp nhau trên con đường sáng tạo. Thế hệ đầu tiên gồm Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại. Họ là những trí thức gắn bó với quê hương, giác ngộ cách mạng. Họ đặt nền móng cho văn học dân tộc thiểu số hiện đại. Thế hệ thứ hai xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Họ được đào tạo trở thành văn nghệ sĩ chuyên nghiệp. Các tên tuổi tiêu biểu gồm Y Phương, Ma Trường Nguyên, Mai Liễu. Thơ Tày phản ánh đời sống lao động và văn hóa cộng đồng. Các tác phẩm mang đậm âm hưởng tâm tình và bản sắc dân tộc.

1.1. Các thế hệ nhà thơ dân tộc Tày

Thế hệ thứ nhất gồm những người sống gắn bó với quê hương. Họ giác ngộ cách mạng và đi kháng chiến. Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu là những đại diện tiêu biểu. Họ được các văn nghệ sĩ người Kinh giúp đỡ trên con đường sáng tạo. Thế hệ thứ hai trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Họ mang đến cho thơ Tày sự khởi sắc mới mẻ. Y Phương, Ma Trường Nguyên, Mai Liễu là những gương mặt nổi bật. Thế hệ thứ ba xuất hiện sau năm 1986. Họ tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sáng tác.

1.2. Vị trí của thơ Tày trong văn học Việt Nam

Thơ dân tộc Tày không thể tách rời khỏi nền văn học dân tộc. Các tác phẩm góp phần tạo nên tiếng nói độc đáo và giàu bản sắc. Thơ Tày hướng đến cái chung, mang âm hưởng tâm tình sâu sắc. Điều này khác biệt với thơ dân tộc Kinh hướng đến cái tôi cá tính. Đội ngũ nhà thơ Tày có những đóng góp tích cực cho văn học cả nước. Nhiều tác phẩm đã được dịch và giới thiệu rộng rãi. Thơ Tày phản ánh đời sống văn hóa phong phú của cộng đồng. Giá trị nhân văn trong thơ được giới nghiên cứu đánh giá cao.

II. Phân tích nội dung và đặc điểm thơ dân tộc Tày

Nội dung thơ dân tộc Tày phản ánh đời sống đa dạng của cộng đồng. Các tác phẩm viết về lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Tình yêu quê hương đất nước là chủ đề xuyên suốt. Thơ cũng đề cập đến phong tục tập quán và lễ hội truyền thống. Người Tày có nhiều lễ hội trong năm như Lồng tồng, lễ mừng thọ. Hội Lồng tồng cầu mong mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Thơ ca thể hiện đời sống tâm linh phong phú. Người Tày thờ cúng tổ tiên và các vị thần bảo hộ. Mẹ Hoa che chở trẻ em, vua bếp cai quản gia đình. Thơ còn viết về tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình. Từ 1945, cảm hứng cách mạng và kháng chiến thấm đẫm trong thơ. Sau 1986, thơ Tày có những chuyển biến mạnh mẽ. Các nhà thơ tìm tòi sáng tạo để hòa nhập với thơ ca cả nước.

2.1. Chủ đề và cảm hứng sáng tác

Chủ đề thơ Tày rất đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận. Các nhà thơ viết về núi rừng và dòng sông quê hương. Cuộc sống lao động của người dân được tái hiện chân thực. Cảm hứng cách mạng xuất hiện mạnh mẽ từ 1945. Các tác giả tham gia kháng chiến viết về tinh thần chiến đấu. Sau đổi mới, thơ Tày hướng đến những vấn đề hiện đại hơn. Tuy nhiên, bản sắc dân tộc vẫn được giữ gìn cẩn thận.

2.2. Đặc điểm nghệ thuật và phong cách

Phong cách thơ Tày có nhiều nét độc đáo riêng biệt. Ngôn ngữ thơ mượn từ kho tàng dân ca và tục ngữ. Hình ảnh thơ gắn liền với thiên nhiên núi rừng Tây Bắc. Nhịp điệu thơ mang âm hưởng của hát then và hát lượn. Nghệ thuật thơ Tày cần đổi mới để vươn tới đỉnh cao mới. Các nhà thơ tìm tòi thể nghiệm để tạo tiếng nói riêng. Thơ Tày hướng đến cái chung, nặng âm hưởng tâm tình. Điều này tạo nên sự khác biệt với thơ Kinh hiện đại.

III. Phương pháp nghiên cứu thơ dân tộc Tày hiện đại

Nghiên cứu thơ dân tộc Tày đòi hỏi nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Phương pháp lịch sử văn học giúp xác định các giai đoạn phát triển. Từ đó thấy được trình tự và quy luật vận động của thơ Tày. Phương pháp so sánh đối chiếu làm nổi bật bản sắc riêng. Các giai đoạn văn học là sự tiếp nối logic lẫn nhau. Phương pháp phân tích tác phẩm giúp đánh giá chất lượng sáng tác. Yêu cầu đặt ra là tìm tòi sáng tạo và đổi mới liên tục. Các tác giả phải nâng cao nhận thức và trình độ. Họ cần khắc phục những hạn chế trong sáng tác. Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian rất quan trọng. Thơ Tày chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa truyền thống. Hội nghị nhà văn miền núi năm 1980 đặt ra yêu cầu cao. Tác phẩm phải hay, đặc sắc và có giá trị đích thực.

3.1. Phương pháp tiếp cận lịch sử

Phương pháp lịch sử giúp nghiên cứu tiến trình phát triển thơ Tày. Bốn giai đoạn chính được xác định rõ ràng từ 1945. Giai đoạn đầu là thời kỳ đặt nền móng văn học mới. Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ tạo nên bước phát triển mới. Thời kỳ đổi mới sau 1986 đánh dấu chuyển biến mạnh mẽ. Mỗi thế hệ gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Phương pháp này cho thấy sự tiếp nối logic giữa các giai đoạn. Từ đó rút ra quy luật vận động của thơ Tày.

3.2. Phương pháp phân tích văn hóa

Văn hóa Tày là nền tảng quan trọng để hiểu thơ dân tộc. Người Tày có hệ thống tín ngưỡng phong phú và đa dạng. Lễ hội Lồng tồng phản ánh lịch sử nhân văn của cộng đồng. Tháng giêng có Tết Nguyên đán và Hội xuống đồng. Tháng bảy có Tết Rằm tháng bảy rất quan trọng. Lễ hội Nàng Hai cầu mùa được tổ chức sau Tết. Phương pháp phân tích văn hóa giúp hiểu sâu nội dung thơ. Bản sắc văn hóa tạo nên giá trị độc đáo của thơ Tày.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thơ dân tộc Tày

Nghiên cứu thơ dân tộc Tày có ý nghĩa học thuật và thực tiễn lớn. Kết quả nghiên cứu góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Thơ Tày là kho tàng quý giá về đời sống tinh thần. Các tác phẩm phản ánh lịch sử và văn hóa cộng đồng qua nhiều giai đoạn. Ứng dụng trong giảng dạy văn học tại các trường đại học rất cần thiết. Giáo trình cần bổ sung nội dung về thơ dân tộc thiểu số. Nghiên cứu cũng hỗ trợ công tác bảo tồn di sản văn hóa. Các tác phẩm thơ cần được sưu tầm và xuất bản rộng rãi. Đội ngũ nhà thơ Tày hiện nay rất đông đảo và chất lượng. Dân tộc Tày có đội ngũ kế cận tương đối nhiều và đồng đều. Đây là tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển tương lai. Thơ Tày cần tiếp tục đổi mới để hòa nhập với thơ ca cả nước. Giá trị nhân văn trong thơ sẽ mãi được trân trọng và gìn giữ.

4.1. Ý nghĩa học thuật của luận án

Luận án tiến sĩ về thơ dân tộc Tày có giá trị học thuật cao. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về tiến trình phát triển. Hệ thống hóa các giai đoạn văn học một cách khoa học. Đánh giá đóng góp của từng thế hệ nhà thơ Tày. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thơ Tày và văn học dân tộc. Góp phần bổ sung lý luận về văn học dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý giá. Mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học.

4.2. Ứng dụng trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực thực tiễn. Trong giáo dục, nội dung thơ Tày đưa vào chương trình giảng dạy. Sinh viên văn học được tiếp cận tác phẩm đặc sắc của dân tộc. Trong bảo tồn văn hóa, nghiên cứu giúp lưu giữ di sản. Các tác phẩm thơ được sưu tầm và giới thiệu đến công chúng. Nghệ thuật nói chung luôn cần sự đổi mới tư duy. Thơ ca phát triển vươn tới đỉnh cao mới nhờ sáng tạo không ngừng. Đội ngũ nhà thơ Tày tiếp tục đóng góp cho nền văn học.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐỖ THỊ THU HUYỀN TH¥ D¢N TéC TµY Tõ 1945 §ÕN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI - 2013 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng muốn phát triển được, muốn vươn tới những đỉnh cao mới thì luôn cần sự đổi mới tư duy, cách viết. Cuộc sống bề bộn, phức tạp đã thổi một luồng gió mới, giải phóng mọi năng lực sáng tạo trong xã hội, trong đó có thơ ca. Ngay từ khi mới ra đời, thơ dân tộc thiểu số nói riêng và văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung đã là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, góp phần làm nên một tiếng nói độc đáo, giàu bản sắc. Với những tác phẩm của mình, các thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đã tạo thành một gương mặt chung, một phong cách chung thống nhất trong đa dạng. Theo thời gian, thơ dân tộc thiểu số ngày một sung sức, phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩm và chất lượng cũng có những thay đổi đáng kể. Nhìn lại quá trình vận động và phát triển của đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số, có thể thấy rằng, sự xuất hiện của mỗi thế hệ cầm bút, mỗi tác giả đều gắn với những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử xã hội cụ thể nhất định, trong đó không thể phủ nhận vai trò góp sức của rất nhiều yếu tố khác trong xã hội. Trong diễn biến phức tạp tưởng như khó nắm bắt được của các sự kiện văn học, tiến trình văn học dân tộc Tày vẫn diễn ra theo một trình tự, một quy luật nhất định mà các giai đoạn văn học cụ thể chỉ là sự tiếp nối lẫn nhau một cách logic. Nhìn vào chặng đường phát triển với bốn thế hệ tiếp nối nhau, có thể thấy đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày vẫn chiếm số lượng đông đảo nhất và cũng là dân tộc có nhiều thành tựu nhất so với các dân tộc thiểu số khác. Một tín hiệu đáng mừng là dân tộc Tày cũng là dân tộc có được đội ngũ kế cận tương đối nhiều và đồng đều để tiếp bước thế hệ trước. Thế hệ đầu tiên của thơ dân tộc Tày có thể kể đến Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân… hầu hết là những trí thức sống gắn bó với quê hương, dân tộc mình, giác ngộ cách mạng đi kháng chiến, gặp gỡ, học hỏi và được các văn nghệ sĩ người Kinh giúp đỡ trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Họ là 2 lớp đầu tiên, đặt nền móng cho văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Thế hệ thứ hai xuất hiện trong thời kỳ xây dựng hòa bình và trong kháng chiến chống Mỹ. Họ sống, lao động, chiến đấu gắn bó với thực tế và rất nhiều trong số đó được học tập, được đào tạo, bồi dưỡng trở thành văn nghệ sĩ chuyên nghiệp như: Ma Đình Thu, Triệu Lam Châu, Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Triệu Sinh, Ma Phương Tân, Lương Định, Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Ngọc Minh, Hữu Tiến, Dương Thuấn. rồi lớp nhà thơ tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã có những thành công nhất định: Tạ Thu Huyền, Dương Khâu Luông, Bế Phương Mai, Nông Thị Tô Hường, Đinh Thị Mai Lan, Vi Thùy Linh, Hoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ. Hiện nay dân tộc Tày có một đội ngũ nhà thơ đông đảo với những sáng tác chất lượng, có những đóng góp tích cực đáng kể cho văn học nghệ thuật nước nhà. Thực trạng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc thiểu số nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế. Văn học các dân tộc thiểu số rất cần được sự tham gia, đánh giá, ủng hộ, khuyến khích của các nhà phê bình văn học, thông qua những công việc như: giới thiệu, phê bình trên tinh thần thẳng thắn, đoàn kết, dân chủ, bình đẳng; phát hiện và bồi dưỡng những tài năng mới… Cần phải đẩy mạnh nghiên cứu theo hướng có những đánh giá, khái quát về thơ, văn các dân tộc thiểu số bên cạnh những bài viết giới thiệu phê bình từng tác phẩm, tác giả riêng lẻ. Cũng như thơ dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Tày nói riêng ít được nghiên cứu. Các công trình đã có phần nhiều dành cho việc khái quát, tổng kết theo giai đoạn hoặc từng dân tộc nhưng còn thiếu sự chuyên sâu. Bên cạnh đó là những công trình phác thảo diện mạo theo hướng tập trung những gương mặt tiêu biểu. Bởi vậy, riêng về thơ dân tộc Tày chưa có công trình nào riêng biệt. Diện mạo của nền thơ ca Việt Nam hiện đại chỉ có thể được nhìn nhận một cách trọn vẹn thống nhất khi có sự đánh giá đúng vai trò của thơ ca các dân tộc thiểu số. Bởi vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về thơ ca các dân tộc thiểu số, trong đó không thể thiếu thơ dân tộc Tày là một công việc có ý nghĩa thiết thực. Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi lựa chọn Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án. Mục tiêu nghiên cứu 3 Văn học các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng, độc đáo của văn học Việt Nam. Bởi vậy, muốn tìm hiểu những đặc điểm của thơ ca Việt Nam hiện đại, không thể không nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của bộ phận thơ ca các dân tộc thiểu số, trong đó có thơ ca dân tộc Tày. Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm của thơ ca dân tộc Tày từ năm 1945 đến nay góp phần tìm hiểu, soi sáng một bộ phận quan trọng trong bức tranh văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, từ đó có cái nhìn tương đối đầy đủ, toàn diện về những đặc điểm nổi bật, độc đáo của thơ ca dân tộc Tày trên các bình diện đội ngũ, nội dung và hình thức nghệ thuật, những phong cách sáng tạo độc đáo. Luận án phác hoạ lại diện mạo thơ của dân tộc Tày từ 1945 đến nay nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa vùng đến những sáng tác. Trong mỗi phần giải quyết những luận điểm cụ thể, chúng tôi phân tích theo hướng đối chiếu, so sánh để nhận rõ hơn những điểm tương đồng và nhất là những khác biệt của thơ dân tộc Tày so với sự phát triển chung của thơ dân tộc Kinh cũng như so với sự thay đổi của thơ ca các dân tộc thiểu số khác như Thái, H’mông, Dao, Mường. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, văn hóa, văn học dân tộc Tày có sự ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của văn học nhiều dân tộc thiểu số khác trong vùng Việt Bắc cũng như văn học Kinh kế cận miền xuôi. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Luận án lấy mốc bắt đầu từ năm 1945 để khảo sát. Đây là thời điểm mà nhiều nhà nghiên cứu văn học đã lựa chọn và thừa nhận sự biến chuyển lớn của văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học dân tộc thiểu số/ dân tộc Tày cũng không ngoại lệ. Tuy có những cách phân kỳ khác nhau, nhưng đối với văn học hiện đại Việt Nam thì các nhà nghiên cứu đều thống nhất lựa chọn mốc 1945, không chỉ bởi đó là một mốc lịch sử quan trọng mà còn vì “văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám có nhiều điều khác nhau rõ rệt. Đó là sự khác nhau từ hình thái xã hội, từ phạm trù văn hóa, từ ý thức hệ của thời đại, dẫn đến sự khác nhau về quan điểm nghệ thuật, về cảm hứng chủ đạo trong văn học, về đề tài, về thế giới nhân vật trong văn học. Văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn học hiện đại dân tộc Tày nói riêng có sự phát triển đi sau so với bề dày thành tựu và thời gian hình thành của văn học 4 miền xuôi. Theo nhà phê bình Lâm Tiến thì “văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam mới chỉ hình thành và phát triển vào thế kỷ XX” [92, tr. Giai đoạn trước nữa, từ thế kỷ XVII, dân tộc Tày có Bế Văn Phủng và Nông Quỳnh Văn là hai tác giả nổi tiếng, dân tộc Thái cũng có Ngần Văn Hoan (thế kỷ XIX) với một số sáng tác được đồng bào các dân tộc yêu mến. Tuy nhiên, sự xuất hiện đó còn ở dạng “lẻ tẻ, không có sự chắp nối, chất lượng tác phẩm còn mang đậm dấu vết của văn học dân gian”, chưa đủ điều kiện hình thành một nền văn học các dân tộc thiểu số bên cạnh nền văn học của người Kinh. Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình của tác giả Nông Quốc Bình trong bài viết Nhìn lại văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số và tác giả Đỗ Kim Cuông trong bài Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trong qúa trình đổi mới đều khẳng định văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời cùng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Phan Đăng Nhật cũng lấy năm 1945 để làm mốc phân chia giữa văn học dân gian và văn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam [59]. Có thể khẳng định rằng, dù mầm mống của văn học hiện đại các dân tộc thiểu số đã có từ trước nhưng nó chỉ thực sự ra đời cùng với Cách mạng tháng Tám 1945. Như vậy, việc lấy năm 1945 là mốc để khảo sát nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (trong đó không ngoại trừ thơ hiện đại dân tộc Tày) là quan niệm chung nhất, phổ biến nhất của các nhà nghiên cứu hiện nay. Luận án lựa chọn nghiên cứu thơ Tày từ 1945 cho đến nay - tức là tại thời điểm hiện tại, cả những tác phẩm xuất hiện năm 2012 vẫn trong diện khảo sát của chúng tôi. Luận án sẽ tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ của các tác giả dân tộc Tày từ năm 1945 đến nay; bên cạnh đó là một số tác phẩm thơ dân tộc Tày trước năm 1945, kho tàng thơ ca dân gian Tày; tác phẩm thơ của các dân tộc thiểu số khác như Thái, H’mông, Dao, Mường. và những tác phẩm thơ của dân tộc Kinh cùng giai đoạn để có cái nhìn hệ thống; các công trình, bài nghiên cứu về thơ ca dân tộc Tày nói riêng và các công trình nghiên cứu về thơ/ văn dân tộc thiểu số nói chung; một số tài liệu về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ