Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thu Huyền thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2013, chuyên ngành Văn học.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành của nền văn học Việt Nam. Trong tiến trình vận động với bốn thế hệ sáng tác tiếp nối, đội ngũ nhà thơ dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất và đạt nhiều thành tựu nổi bật trong tương quan với các dân tộc thiểu số khác. Tuy nhiên, thực trạng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Tày nói riêng còn bộc lộ nhiều khoảng trống. Phần lớn các công trình đã xuất bản chủ yếu dừng lại ở việc khái quát theo chặng đường lịch sử, tuyển chọn bình điểm các gương mặt quen thuộc hoặc tiếp cận dưới giác độ văn học dân gian (như khảo sát truyện thơ Nôm). Trước thời điểm luận án triển khai, chưa có một công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và quy mô về diện mạo thơ hiện đại dân tộc Tày từ năm 1945 đến nay đặt trên nền tảng gắn kết với bối cảnh văn hóa tộc người.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được cụ thể hóa thành ba nhiệm vụ chính:
- Phác họa diện mạo của thơ dân tộc Tày từ năm 1945 đến nay trên các bình diện đội ngũ sáng tác, sự chuyển biến của cảm hứng nội dung, các đặc điểm nghệ thuật thể hiện và những phong cách tác giả tiêu biểu.
- Làm sáng tỏ mức độ ảnh hưởng của môi trường và không gian văn hóa vùng (đặc biệt là văn hóa Việt Bắc) đến tư duy và cấu trúc tác phẩm thơ.
- Sử dụng thao tác so sánh, đối chiếu giữa thơ ca dân tộc Tày với sự phát triển chung của thơ ca người Kinh và thơ ca của các dân tộc thiểu số khác (Thái, H'mông, Dao, Mường) nhằm nhận diện rõ các điểm tương đồng cùng những nét đặc thù riêng biệt.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu chính: Toàn bộ các tác phẩm thơ của các nhà thơ dân tộc Tày xuất hiện từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (khảo sát mở rộng tới các tập thơ xuất bản năm 2012).
- Phạm vi thời gian: Mốc 1945 được lựa chọn làm điểm xuất phát. Tác giả luận chứng rằng đây là mốc lịch sử đánh dấu sự chuyển đổi về hình thái xã hội, hệ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật và là thời điểm ra đời chính thức của nền văn học viết hiện đại các dân tộc thiểu số theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu như Lâm Tiến, Phan Đăng Nhật, Nông Quốc Bình và Đỗ Kim Cuông. Phạm vi kết thúc khảo sát là năm 2012.
- Phạm vi tư liệu tham chiếu: Luận án khảo sát bổ trợ một số tác giả Tày trước năm 1945 (như Bế Văn Phủng, Nông Quỳnh Văn ở thế kỷ XVII); kho tàng văn học dân gian Tày (truyện thơ Nôm, then, lượn, quan làng); các sáng tác cùng thời kỳ của các tác giả người Kinh và các dân tộc thiểu số khác (Thái, H'mông, Dao, Mường); cùng hệ thống tài liệu lý luận, phê bình văn học và văn hóa học có liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện điểm luận toàn diện tình hình nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung và thơ dân tộc Tày nói riêng theo các nhóm tác giả và công trình cụ thể:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các tác giả người Kinh: Lực lượng nghiên cứu người Kinh tham gia khảo sát, nhận định về văn học dân tộc thiểu số bao gồm Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Tế Hanh, Trúc Thông, Trinh Đường, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Lưu Khánh Thơ, Vũ Tuấn Anh, Tôn Phương Lan, Phạm Xuân Nguyên, Phan Diễm Phương, Phạm Quang Trung, Trần Lê Văn, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Văn Toại, Nguyễn Ngọc Phúc, Phạm Phú Phong; tiếp sau đó có Trần Thị Việt Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Trọng Hoàn, Phạm Duy Nghĩa. Các công trình tiêu biểu gồm: Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (GS. Phong Lê chủ biên, 1988) công bố 16 bài viết nghiên cứu về 16 tác giả; 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1985 (Phong Lê và Đinh Văn Định viết về thành tựu văn học); các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Đại học Thái Nguyên như Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - Khu vực phía Bắc Việt Nam (Trần Thị Việt Trung, Lâm Tiến, Nguyễn Thúy Quỳnh, 2010) và Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại - một số đặc điểm (Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo đồng chủ biên, 2011).
Thứ hai, các công trình của các tác giả người dân tộc thiểu số vừa sáng tác vừa nghiên cứu phê bình: Đội ngũ này có Nông Quốc Chấn, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Dương Thuấn, Inrasara, Hoàng Quảng Uyên, Triều Ân, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Hà Thu Bình, và Lâm Tiến (dân tộc Nùng). Trong đó, Nông Quốc Chấn ghi dấu ấn với các tập tiểu luận Đường ta đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985). Lò Ngân Sủn xuất bản bộ sách Hoa văn thổ cẩm (3 tập: 1998, 1999, 2002), Thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số (2001), Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu số (2002). Lâm Tiến đóng góp các công trình quy mô như Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995), Về một mảng văn học dân tộc (1999), Văn học và miền núi (2002). Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam ấn hành hai tập Nhà văn dân tộc thiểu số - Đời và văn (2003) giới thiệu 87 tác giả (dân tộc Tày chiếm 32 tác giả).
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trực tiếp về văn học và thơ dân tộc Tày:
- Về mảng văn học cổ truyền và dân gian có Truyện thơ Tày - Nùng (1964) của Nông Quốc Chấn, Truyện thơ Tày (1995) của Triều Ân, Truyện thơ Tày: Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại (2004) của Vũ Anh Tuấn.
- Về các bài phê bình cụ thể có bài viết của Xuân Diệu (1960) về tập Tiếng ca người Việt Bắc; Triều Ân (1974) và Nông Quốc Chấn (1961) nghiên cứu thơ Hoàng Đức Hậu; Hoàng Như Mai (1976) nhận định về thơ Nông Quốc Chấn.
- Năm 2008, Viện Văn học nghiệm thu đề tài cấp cơ sở Thơ dân tộc ít người giai đoạn 10 năm cuối thế kỷ XX - truyền thống và hiện đại (Hà Công Tài, Nguyễn Thị Thanh Lưu, Đỗ Thị Thu Huyền thực hiện).
- Các công trình chuyên luận, luận văn gắn với tác giả Tày cụ thể gồm nghiên cứu của Phạm Thế Thành (2005) về bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn; Nguyễn Thị Hằng (2006) và Hà Thị Duyên (2007) về thơ Dương Thuấn; Hoàng Thị Dung khảo sát văn học Bắc Kạn từ 1945.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các tài liệu trước đây hoặc mang tính chất hợp tuyển, bình luận tản mạn từng tác phẩm, hoặc chỉ tập trung vào một số gương mặt lớn thuộc thế hệ đầu. Luận án này là công trình đầu tiên xác lập cái nhìn hệ thống, chỉnh thể về cả bốn thế hệ nhà thơ Tày, bao quát sự chuyển dịch từ cảm hứng lịch sử - xã hội sang cảm hứng thế sự - đời tư, đồng thời gắn kết phân tích văn bản thi ca với các tầng vỉa văn hóa tộc người Tày.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết văn hóa học và liên ngành văn học để định hình khung phân tích:
- Luận điểm của Mikhail Bakhtin: Văn học là một bộ phận hữu cơ của văn hóa, không thể tách rời hiện tượng văn học khỏi mạch vận động nguyên vẹn của toàn bộ nền văn hóa thời kỳ nó tồn tại; việc nghiên cứu văn học trong mối liên hệ đồng đại và lịch đại giúp làm rõ chức năng và cấu trúc văn hóa của tác phẩm.
- Quan điểm văn hóa học của Erich Fromm và nhân học văn hóa của Margaret Mead về sự tác động của môi trường và tâm lý tộc người đến sáng tạo cá nhân.
- Khung lý thuyết của Hippolyte Taine giải thích nguồn gốc sáng tạo dựa trên ba yếu tố: chủng tộc (race), hoàn cảnh môi trường (milieu) và thời điểm (moment), kết hợp với khái niệm trường khả năng (champ des possibilités).
- Khái niệm nhập thân văn hóa (nắm bắt trải nghiệm văn hóa tộc người cụ thể, phân biệt với xã hội hóa thông thường) và quá trình tiếp biến văn hóa (acculturation), quan hệ cộng sinh văn hóa (symbiose theo cách dùng của Hoàng Ngọc Hiến) giữa văn hóa dân tộc thiểu số và văn hóa đa số.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp các phương pháp chuyên ngành và thao tác bổ trợ:
- Phương pháp văn học sử: Sử dụng để tái hiện diện mạo, tiến trình vận động của thơ dân tộc Tày qua hơn nửa thế kỷ (1945-2012), xác lập các giai đoạn phát triển và sự kế thừa qua bốn thế hệ nhà thơ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đi từ việc khảo cứu chi tiết các ngữ liệu văn bản thơ để đúc kết thành các nhận định khái quát về tư tưởng, nội dung và các phương thức biểu hiện nghệ thuật.
- Thao tác so sánh, đối chiếu và thống kê: So sánh nội tại giữa các giai đoạn thơ Tày, đối chiếu thơ Tày với thơ ca người Kinh và thơ ca của các dân tộc thiểu số anh em (Thái, Mường, H'mông, Dao). Thống kê số lượng tác giả, tác phẩm và các đơn vị biểu tượng nghệ thuật.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học: Phân tích sự tác động qua lại giữa văn hóa vật chất, sinh hoạt tín ngưỡng, ngôn ngữ Tày với thi pháp sáng tác của từng tác giả.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Khảo sát thực tế các tập thơ, trường ca xuất bản từ năm 1945 đến năm 2012 của các nhà thơ Tày; tư liệu điền dã và nghiên cứu dân tộc học về địa bàn cư trú, số liệu dân số, phong tục tập quán; kho tàng văn học dân gian Tày bằng chữ Nôm Tày và bản ghi âm Latinh.
| Tiêu chí phương pháp |
Nội dung triển khai trong luận án |
| Phương pháp văn học sử |
Phục dựng tiến trình hơn 60 năm; phân kỳ 1945-1975 và sau 1975 (trọng tâm sau 1986). |
| Phương pháp phân tích - tổng hợp |
Khảo sát văn bản tác phẩm cụ thể để khái quát hóa đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật. |
| Thao tác đối chiếu, so sánh |
So sánh liên văn hóa giữa thơ Tày với thơ Kinh và các dân tộc Thái, H'mông, Dao, Mường. |
| Tiếp cận liên ngành văn hóa |
Ứng dụng lý thuyết văn hóa của M. Bakhtin, H. Taine, E. Fromm, nhân học văn hóa. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập bức tranh tổng quan về tình hình nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số, đồng thời trình bày các dữ liệu thực chứng về đặc điểm tộc người, môi trường tự nhiên và các thành tố văn hóa Tày:
Về nhân khẩu học và địa bàn cư trú: Người Tày cư trú tập trung chủ yếu ở khu vực Việt Bắc và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái). Dựa trên tài liệu tổng hợp dân số được trích dẫn trong văn bản, dân tộc Tày có 1.392.xxx người, trong đó các tỉnh tập trung đông dân nhất gồm Lạng Sơn (259.532 người), Cao Bằng (207.805 người), Tuyên Quang (185.464 người), Hà Giang (168.719 người) và Bắc Kạn (155.xxx người). Địa bàn này gắn liền với các lưu vực sông Lô, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Bằng Giang.
Về văn hóa vật chất:
- Làng bản và cư trú: Người Tày sống thành bản làng dưới chân núi, thung lũng, coi trọng quan hệ huyết thống và láng giềng. Ngôi nhà truyền thống là nhà sàn vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, phổ biến dạng 3 gian 2 chái. Tục dựng nhà kiêng cây cụt ngọn, sâu gốc, kiêng quay ngọn cây xuống đất hoặc hướng về phía mặt trời mọc. Mặt bằng nhà sàn phân chia rõ khu vực sinh hoạt của nam và nữ. Đặc biệt tại vùng biên giới Lạng Sơn có loại hình "nhà phòng thủ" kết hợp nhà sàn và nhà đất, tường trình dày 40-60cm, có đục lỗ châu mai và bố trí lô cốt để đối phó trộm cướp.
- Ẩm thực: Lương thực chính là gạo tẻ; gạo nếp dùng trong dịp lễ tết làm xôi ngũ sắc (nhuộm lá cẩm màu tím, đỏ; nhuộm quả trám đen), bánh chưng, bánh khảo, bánh bỏng, chè lam, bánh tro.
- Trang phục truyền thống: May từ vải bông tự dệt nhuộm chàm, giản dị và không thêu thùa hoa văn sặc sỡ. Nam giới mặc áo cánh 4 thân (cài 7 cúc vải phía trước, hai túi vạt dưới), áo dài 5 thân, quần chân què hoặc bổ đũng. Phụ nữ mặc áo ngắn 4 thân, áo dài 5 thân xẻ nách cài 5 cúc bên phải, dải thắt lưng dài khoảng 3 mét, rộng 30cm, đội khăn vuông gập chéo chít kiểu mỏ quạ.
Về ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Tày thuộc ngữ hệ Tày - Thái. Về văn tự, trước năm 1945 sử dụng chữ Hán trong văn tự mua bán, cúng lễ; chữ Nôm Tày xuất hiện từ thế kỷ XV dùng ghi chép thi ca, bài cúng. Chữ Tày Latinh bắt đầu hình thành từ đầu thế kỷ XX với sách Langue Thổ của Hoàng Khánh Thiện dạy tại trường Ba Xã (Lạng Sơn) từ thập niên 1920. Đến năm 1960, bộ chữ Tày - Nùng dựa trên ký tự Latinh chính thức ban hành.
Về tín ngưỡng và lễ hội: Người Tày có thế giới quan đa thần, chia vũ trụ thành ba cõi (cõi trời của then, bụt, tiên; cõi trần của con người; cõi nước là cõi âm). Hệ thống ma chia thành ma lành (tổ tiên, ma bếp, thổ công, bà mụ) và ma dữ (ma sông, ma núi, ma gà chuyên làm hại người). Tục tang ma quy định việc chuộc hồn ba lần (sau 30 ngày, 1 năm và 3 năm làm lễ mãn tang). Trong đời sống xã hội có lễ mừng thọ với nghi thức đổ thêm gạo vào bồ, lễ hội Lồng tồng xuống đồng đầu năm, lễ hội Nàng Hai (Nàng Trăng) cầu mùa tại Cao Bằng.
Về văn học dân gian: Kho tàng văn hóa dân gian phong phú gồm truyện cổ tích, truyền thuyết (Chín chúa tranh vua, Nùng Trí Cao, Phó tướng quân Nông Đắc Thái), các truyện thơ Nôm Tày khuyết danh (Nam Kim Thị Đan, Quảng Tân Ngọc Lương, Thạch Sanh, Khảm hải). Cố nhà sưu tầm Lục Văn Pảo đã ghi nhận 114 truyện Nôm Tày tại vùng Chợ Rã (Bắc Kạn). Sinh hoạt diễn xướng có các làn điệu then, lượn và thơ ca nghi lễ hát Quan làng trong đám cưới.
Xu hướng hiện đại hóa trong thơ Tày: Luận án chỉ ra sự xuất hiện của xu hướng hiện đại hóa, vượt qua khuôn khổ tư duy dân gian mộc mạc để gia nhập mạch thơ chung của cả nước. Xu hướng này quy tụ nhiều thế hệ tác giả:
- Bế Thành Long (sinh năm 1938) với tập thơ Cỏ may (1996), Ở nguồn.
- Triều Ân với các sáng tác chân thực, giàu suy ngẫm đời thường bên cạnh mảng nghiên cứu chữ Nôm Tày.
- Đoàn Lư với Mùa khẩu lam (1997), Dòng sông nghiêng (2003).
- Đoàn Ngọc Minh với các tập Lời hẹn (1997), Gọi nắng (2004), Sông ngàn lau (2001), Gió hoàng hôn (2012).
- Triệu Sinh với Chẩp căn tềnh kéo điếp (Gặp nhau trên đỉnh đèo yêu thương, 2006); Triệu Đức Xuân với Hai bờ dòng chảy (2005); Hoàng Kim Dung với Bỡ ngỡ (2005), Chốn xưa (2006), Khúc giao mùa (2008); Hoàng Diệu Tuyết với Mùa nắng mới (2005).
- Tiếng thơ nữ Tày thể hiện tính nữ và trực cảm nội tâm: Nông Thị Ngọc Hòa với Trước gương (1988), Lời ru cho mình (1999), Lời của lá (2000), Vườn duyên (2002), Con đường cho mây đi (2004), trường ca Nước hồ mãi trong xanh (2006); Tạ Thu Huyền với Đầy vơi (2001).
- Tác giả Vi Thùy Linh (sinh năm 1980) là trường hợp đặc biệt: mang gốc gác Tày nhưng sinh trưởng tại Hà Nội, xuất bản 6 tập thơ gồm Khát (1999), Linh (2000), Đồng tử (2006), ViLi in love (song ngữ Việt - Anh, 2008), Phim đôi - tình tự chậm (2010), Chu du cùng ông nội (2011). Thơ Vi Thùy Linh phản ánh khát vọng tình yêu mãnh liệt, tư duy thời gian hiện đại và sự phá cách táo bạo về thi pháp.
Chương 2: Hiện thực đời sống trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Chương 2 luận giải sự vận động của hiện thực đời sống qua hai chặng đường lịch sử lớn:
Giai đoạn 1945 - 1975: Hiện thực cách mạng và chiến tranh giải phóng:
- Cảm hứng chủ đạo: Tinh thần yêu nước, lòng trung thành với Đảng và Bác Hồ, ý thức giác ngộ cách mạng để đổi đời. Thơ ca gắn liền với nhiệm vụ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bảo vệ quê hương bản quán và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
- Đội ngũ thế hệ thứ nhất và thứ hai: Nông Quốc Chấn mở đầu bằng các bài thơ Mưa gió (1942), Khóc đồng chí (1944), đạt đỉnh cao với Dọn về làng (1950), Khâu áo (1948), Việt Bắc đánh giặc, chùm thơ Chung một bài ca (14 bài), các tập thơ Tiếng ca người Việt Bắc, Đèo gió. Nông Minh Châu ghi dấu với Đêm Ba Khe, Người thanh niên giữ Đèo Giàng (1953), Cưa khửn đông (Muối lên rừng). Nông Viết Toại có Pây bộ đội (Đi bộ đội), Đét chang nâư (Nắng ban trưa). Triều Ân ra mắt Tung còn và suối đàn (in chung với Nông Minh Châu), Nắng ngàn, Bốn mùa hoa. Tiếp đó có Bế Dôn, Nông Văn Bút, Hoàng Trung Thu, Ma Trường Nguyên (Buổi sớm trên đồi chè, 1972).
- Đặc trưng phản ánh: Khắc họa hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, sự hy sinh của đồng bào các dân tộc (Tày, Nùng, Kinh, Mèo, Mán), tình đoàn kết gắn bó Việt Bắc - Tây Nguyên (các bài thơ Việt Bắc - Tây Nguyên của Nông Quốc Chấn, Gửi Tây Nguyên của Triều Ân, Kết tồng ngày nay của Nông Minh Châu). Ngôn ngữ thơ giai đoạn này mang tính chất mộc mạc, trực tiếp, giàu nhiệt huyết cách mạng, đôi khi còn nặng tính tuyên truyền khẩu hiệu.
Giai đoạn từ sau 1975 đến nay (trọng tâm sau 1986): Hiện thực đời sống hòa bình và thời kỳ Đổi mới:
- Chuyển biến cảm hứng: Sau khi chiến tranh kết thúc, cảm hứng thơ chuyển từ ý thức cộng đồng sang chiều sâu thân phận cá nhân, phản ánh hiện thực đa diện và phức tạp của đời sống kinh tế thị trường, đô thị hóa và giao lưu văn hóa. Nhà thơ dân tộc thiểu số đối diện với thách thức "hạ sơn về phố", hòa nhập đời sống hiện đại nhưng nỗ lực giữ gìn căn cước tộc người.
- Sự khởi sắc của đội ngũ sáng tác: Giai đoạn này ghi nhận các tác phẩm tiêu biểu như:
- Bế Thành Long: Cỏ may, Ở nguồn.
- Y Phương: Tiếng hát tháng Giêng, Lời chúc, Chín tháng.
- Ma Trường Nguyên: Tiếng lá rừng gọi đôi, Câu hát vắt qua vai, Bắc cầu vồng thăm nhau.
- Mai Liễu: Tìm tuổi, Giấc mơ của núi, Đầu nguồn mây trắng.
- Dương Thuấn: Đi tìm bóng núi, Đi ngược mặt trời, Hát với sông.
| Giai đoạn lịch sử |
Cảm hứng chủ đạo |
Tác giả tiêu biểu |
Tác phẩm dẫn chứng trong văn bản |
| 1945 - 1975 |
Tinh thần cách mạng, lòng yêu nước, chiến đấu bảo vệ quê hương, tình đoàn kết dân tộc. |
Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Trường Nguyên. |
Dọn về làng, Khâu áo, Người thanh niên giữ Đèo Giàng, Pây bộ đội, Đèo gió, Buổi sớm trên đồi chè. |
| Sau 1975 (từ 1986) |
Thân phận con người, trăn trở thế sự, tiếp biến văn hóa truyền thống - hiện đại, bảo tồn bản sắc. |
Bế Thành Long, Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Dương Thuấn, Vi Thùy Linh. |
Tiếng hát tháng Giêng, Lời chúc, Giấc mơ của núi, Đi tìm bóng núi, Cỏ may, Khát, Đồng tử. |
Chương 3: Các phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Luận án dành Chương 3 để phân tích hệ thống hình thức mang tính đặc thù của thơ Tày:
- Thể loại và thi pháp: Sự kế thừa sâu sắc các thể thơ truyền thống của dân tộc Tày như thơ 5 chữ, thơ 7 chữ (ảnh hưởng từ các thể phong slư, cọi, lượn then) kết hợp với các thể loại tự do, trường ca và thơ văn xuôi hiện đại.
- Ngôn ngữ và cách tư duy nghệ thuật: Thơ Tày mang lối tư duy trực cảm, dùng hình ảnh cụ thể để biểu đạt khái niệm trừu tượng, cách diễn đạt mộc mạc, hồn nhiên của người vùng cao. Trong quá trình phát triển, các nhà thơ đã tiếp thu ngôn ngữ tiếng Việt toàn dân để làm phong phú biểu đạt mà vẫn bảo lưu cấu trúc ngữ nghĩa và cách ví von của tiếng mẹ đẻ Tày.
- Hệ thống hình tượng và biểu tượng: Các biểu tượng gắn liền với tự nhiên và đời sống tộc người xuất hiện xuyên suốt như ngọn núi, dòng suối, cây rừng, chiếc áo chàm, ngôi nhà sàn, ngọn lửa bếp, tiếng đàn tính, câu then. Các biểu tượng này phản ánh thế giới quan tâm linh và sức sống bền bỉ của văn hóa Tày.
Chương 4: Một số phong cách sáng tạo trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Chương 4 đi sâu nghiên cứu ba gương mặt tiêu biểu đại diện cho ba thế hệ nhà thơ Tày:
- Nông Quốc Chấn (Thế hệ thứ nhất): Cánh chim đầu đàn của văn học dân tộc thiểu số hiện đại. Phong cách thơ đằm thắm, mộc mạc, thể hiện tiếng nói của người Tày đi theo cách mạng với cảm xúc chân thành, trung thực, mang âm hưởng của núi rừng Việt Bắc.
- Y Phương (Thế hệ thứ hai): Phong cách thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản sắc văn hóa dân tộc Tày và tư duy thơ hiện đại. Thơ Y Phương giàu tính triết lý, ngôn từ tạo hình sắc sảo, cấu tứ mới mẻ, khai thác sâu sắc phong tục và tâm hồn của "người đồng mình".
- Dương Thuấn (Thế hệ thứ ba): Nhà thơ mang tâm thức văn hóa Tày sâu đậm vào đời sống hiện đại. Thơ Dương Thuấn thể hiện sự trăn trở về việc bảo tồn các giá trị cổ truyền giữa không gian đô thị hóa, kết hợp giữa chất dân gian huyền thoại và cảm quan hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã xây dựng một khung tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số, chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa tộc người và thi pháp văn học. Luận án khẳng định văn học dân tộc Tày chịu sự chi phối chặt chẽ từ môi trường sống, tâm lý tộc người, ngôn ngữ và phong tục tập quán truyền thống.
Về mặt thực tiễn:
- Phục dựng một cách hệ thống và toàn diện tiến trình phát triển của thơ dân tộc Tày trong hơn nửa thế kỷ (1945-2012) qua bốn thế hệ nhà thơ tiếp nối nhau.
- Chỉ ra quy luật vận động của cảm hứng nghệ thuật qua hai giai đoạn lịch sử lớn (1945-1975 và sau 1975 đến nay), làm rõ sự phân hóa thi pháp từ tính chất sử thi, cộng đồng sang tính chất đời tư, thế sự.
- Định hình các đặc trưng nghệ thuật cơ bản của thơ Tày về thể loại, ngôn ngữ tạo hình và hệ thống biểu tượng tộc người.
- Đánh giá chuyên sâu ba phong cách sáng tác tiêu biểu thuộc ba thế hệ (Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn), khẳng định đóng góp của các nhà thơ Tày đối với nền văn học Việt Nam hiện đại.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Cần đẩy mạnh công tác phê bình, nghiên cứu chuyên sâu về văn học từng dân tộc thiểu số thay vì các bài viết mang tính tổng kết chung chung.
- Tăng cường phát hiện, bồi dưỡng thế hệ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số nhằm tạo nguồn sáng tác kế cận đồng đều.
- Khuyến khích sáng tác song ngữ (tiếng Tày và tiếng Việt), đầu tư nghiên cứu, phiên âm Latinh nguồn tư liệu chữ Nôm Tày truyền thống (như 114 truyện Nôm tại vùng Chợ Rã) để làm giàu thêm mạch nguồn sáng tạo cho thơ ca đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Do độ lùi thời gian và phạm vi xuất bản phong phú, luận án chưa thể bao quát hết toàn bộ các sáng tác của thế hệ tác giả trẻ đương đại xuất hiện trong những năm đầu thế kỷ XXI.
- Nguồn tư liệu chữ Nôm Tày trong dân gian còn tản mát, chưa được sưu tầm và phiên âm đồng bộ, làm hạn chế phần nào việc đối sánh văn bản học giữa thi pháp truyền thống và hiện đại.
- Việc tiếng Tày có nhiều phương ngữ địa phương và thiếu một hệ quy chuẩn thống nhất về phát âm chữ viết tạo ra rào cản trong việc phân tích các biến thể ngôn ngữ trong thơ của các vùng khác nhau.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát diện mạo sáng tác của thế hệ nhà thơ trẻ người Tày và các dân tộc thiểu số khác trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
- Khai thác sâu hơn mảng văn bản chữ Nôm Tày nhằm tìm kiếm sự tiếp nối thi pháp từ văn học trung đại sang văn học hiện đại.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên vùng và liên ngôn ngữ trong ngữ hệ Tày - Thái ở khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học văn hóa.
- Giảng viên giảng dạy các học phần Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm và các viện nghiên cứu chuyên ngành.
- Các nhà quản lý văn hóa, cơ quan hoạch định chính sách dân tộc, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trong việc định hướng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển văn học nghệ thuật vùng cao.
Các nội dung đáng tham khảo nhất:
- Phần khảo cứu chi tiết về văn hóa vật chất, phong tục, chữ viết và tín ngưỡng Tày ở Chương 1 làm tài liệu nền tảng cho nghiên cứu liên ngành.
- Bức tranh lịch sử văn học và sự phân kỳ cảm hứng thơ ca qua hai cuộc kháng chiến và thời kỳ đổi mới ở Chương 2.
- Phương pháp tiếp cận phong cách học tác giả dựa trên cơ sở văn hóa học ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào cơ sở khoa học nào để chọn mốc thời gian khảo sát từ năm 1945?
Luận án lựa chọn năm 1945 vì đây là mốc lịch sử diễn ra Cách mạng tháng Tám, tạo ra bước ngoặt căn bản về hình thái xã hội, ý thức hệ và quan điểm nghệ thuật. Theo các nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật, Lâm Tiến, Nông Quốc Bình và Đỗ Kim Cuông, dù mầm mống văn học viết của người Tày đã có từ trước (với Bế Văn Phủng, Nông Quỳnh Văn thế kỷ XVII), nhưng phải từ năm 1945, nền văn học hiện đại của các dân tộc thiểu số Việt Nam mới chính thức ra đời và phát triển có hệ thống.
2. Bốn thế hệ nhà thơ dân tộc Tày được luận án phân định gồm những tác giả tiêu biểu nào?
- Thế hệ thứ nhất (thời kỳ kháng chiến chống Pháp): Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân.
- Thế hệ thứ hai (thời kỳ xây dựng hòa bình và chống Mỹ): Ma Đình Thu, Triệu Lam Châu, Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Triệu Sinh, Ma Phương Tân, Lương Định, Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Ngọc Minh, Hữu Tiến, Dương Thuấn.
- Thế hệ thứ ba và các tác giả trẻ tiếp nối: Dương Khâu Luông, Bế Phương Mai, Nông Thị Tô Hường, Đinh Thị Mai Lan, Hoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ, Tạ Thu Huyền.
- Thế hệ đương đại có sự bứt phá thi pháp đặc thù: Vi Thùy Linh.
3. Ba nhà thơ nào được luận án lựa chọn khảo sát phong cách tác giả chuyên sâu trong Chương 4?
Luận án lựa chọn Nông Quốc Chấn, Y Phương và Dương Thuấn. Đây là ba tác giả thuộc ba thế hệ kế tiếp nhau, có đóng góp tiêu biểu cho nền văn học dân tộc thiểu số và văn học cả nước, đại diện cho các xu hướng vận động từ trữ tình cách mạng truyền thống đến tư duy thơ hiện đại mang bản sắc văn hóa tộc người.
4. Những nét đặc thù về văn hóa vật chất của người Tày được luận án khảo sát gồm những gì?
Luận án khảo sát ba yếu tố chính:
- Cư trú: Nhà sàn truyền thống 3 gian 2 chái, vì kèo 4 đến 7 cột, kiêng kỵ khi lấy gỗ và dựng cột; kiểu "nhà phòng thủ" tường trình dày 40-60cm có lỗ châu mai tại Lạng Sơn.
- Ẩm thực: Cơm gạo tẻ thường nhật, xôi ngũ sắc, các loại bánh nếp truyền thống (bánh chưng, bánh khảo, bánh bỏng, bánh tro, chè lam).
- Trang phục: Y phục vải bông nhuộm chàm; nam mặc áo ngắn 4 thân (cài 7 cúc) và áo dài 5 thân; nữ mặc áo ngắn 4 thân, áo dài 5 thân cài 5 cúc bên nách phải, thắt lưng dài 3 mét rộng 30cm, đội khăn vuông gập chéo chít kiểu mỏ quạ.
5. Xu hướng hiện đại hóa trong thơ Tày được biểu hiện qua những đặc điểm và tác giả nào?
Xu hướng hiện đại hóa thể hiện ở việc thoát ly lối tư duy trực cảm đơn giản và đề tài thuần túy dân gian để tiếp cận các kỹ thuật biểu đạt của thơ hiện đại, khai thác chiều sâu tâm lý, cảm thức thời gian và ý thức cá nhân. Xu hướng này xuất hiện ở Bế Thành Long (Cỏ may), Triều Ân, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Kim Dung, Tạ Thu Huyền, và thể hiện rõ nét ở Vi Thùy Linh qua các tập thơ phá cách táo bạo như Khát, Linh, Đồng tử, ViLi in love.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay" của Đỗ Thị Thu Huyền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát tiến trình vận động của thơ hiện đại Tày trong hơn nửa thế kỷ. Bằng việc kết hợp phương pháp văn học sử và góc nhìn văn hóa học, luận án đã làm sáng tỏ diện mạo bốn thế hệ nhà thơ, quy luật chuyển biến cảm hứng qua hai giai đoạn 1945-1975 và sau 1975, cùng các đặc trưng nghệ thuật mang bản sắc tộc người. Công trình khẳng định vị thế của thơ Tày như một bộ phận cấu thành giàu thành tựu trong nền văn học đa dân tộc của Việt Nam hiện đại.