Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tôn giáo ở đồng bằng Bắc Bộ - Những đề xuất nhằm gắn văn hóa tôn giáo với văn hóa du lịch" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Thêu, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Bính, thuộc Bộ môn Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (năm 2010). Đề tài thuộc nhóm nghiên cứu ứng dụng văn hóa - du lịch, tiếp cận hệ thống giá trị tôn giáo dưới góc độ tài nguyên nhân văn để định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm, chi phối sâu sắc đời sống tinh thần, phong tục, đạo đức và lối sống của người dân. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với 6 tôn giáo lớn và hàng chục triệu tín đồ. Cả nước hiện lưu giữ khoảng 40.000 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tạo nên một kho tàng tài nguyên phong phú phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, vùng đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành nền văn minh Đại Việt, nơi tập trung mật độ di tích đậm đặc nhất cả nước và cũng là địa bàn du nhập, phát triển sớm nhất của hai tôn giáo lớn: Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Mặc dù tiềm năng tài nguyên du lịch gắn với di tích và lễ hội tôn giáo tại khu vực này rất phong phú, thực tiễn khai thác thời điểm năm 2010 vẫn mang tính tự phát, thiếu đồng bộ, bộc lộ nhiều hạn chế về quản lý, tổ chức và bảo tồn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tôn giáo, văn hóa tôn giáo và làm rõ khái niệm, đặc điểm của loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
  2. Khảo sát thực trạng nhu cầu tín ngưỡng của cư dân và tiềm năng du lịch tại hệ thống đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ và các lễ hội tôn giáo ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; từ đó chỉ rõ các mặt hạn chế, tồn tại trong công tác khai thác, quản lý điểm đến.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính chiến lược và các giải pháp thực thi cụ thể nhằm gắn kết văn hóa tôn giáo với việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tôn giáo, tập trung vào những giá trị của văn hóa tôn giáo đối với việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian tập trung tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, khảo sát chuyên sâu dữ liệu tại các tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Thái Bình và Hải Phòng. Thời gian nghiên cứu tập trung vào các số liệu thực tế giai đoạn 2006-2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các khái niệm, khung lý thuyết và văn bản pháp lý sau:

  • Quan niệm về tôn giáo: Tác giả tổng thuật các định nghĩa tôn giáo từ góc độ thần học ("mối liên hệ giữa thần thánh và con người"), tâm lý học ("sự sáng tạo của cá nhân trong nỗi cô đơn") và triết học Mác-Lênin. Trọng tâm lý luận dựa trên định nghĩa kinh điển của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Chống Đuyrinh: Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày, trong đó lực lượng trần thế mang hình thức của lực lượng siêu trần thế.
  • Góc tiếp cận văn hóa học: Tiếp thu luận điểm của GS. Trần Quốc Vượng về bản chất tôn giáo vừa là sản phẩm, vừa là thành phần hữu cơ cấu thành văn hóa, mang hạt nhân triết học và chủ nghĩa nhân đạo; quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh (Viện trưởng Viện Văn hóa Dân gian) xác định biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng là biểu tượng văn hóa mang bản sắc dân tộc, đóng vai trò nhân lõi sinh ra các hiện tượng văn hóa nghệ thuật.
  • Khái niệm văn hóa tâm linh và du lịch văn hóa tâm linh: Xác định văn hóa tâm linh là loại hình văn hóa tinh thần đặc thù của người Việt, thể hiện niềm tin, lòng tri ân đối với người đã khuất, tổ tiên, Thành hoàng, anh hùng dân tộc trong không gian và thời gian thiêng. Du lịch văn hóa tâm linh được định nghĩa là sự kết hợp giữa hoạt động du lịch (tham quan, vãn cảnh, thưởng ngoạn) với sinh hoạt tâm linh (chiêm bái, lễ lạt, cầu nguyện, hướng thiện).
  • Cơ sở pháp lý và chính sách: Khóa luận viện dẫn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định trong Hiến pháp; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Bộ luật Dân sự; Nghị định số 566-TTg ngày 02/8/1955 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Tôn giáo trực thuộc Phủ Thủ tướng; và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu lý luận và chính sách.
  • Phương pháp khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi: Thực hiện điều tra thực tế nhu cầu tham gia hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng với quy mô 1.000 phiếu/tỉnh tại 5 địa phương (Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình), tổng cộng 5.000 phiếu; khảo sát trực tiếp 100 du khách tại chùa Bái Đính (Ninh Bình) trong ngày khai hội (mồng 6 tháng Giêng năm 2010).
  • Phương pháp thống kê, đối sánh nguồn dữ liệu thứ cấp từ Ban Tôn giáo Chính phủ, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Văn hóa - Thông tin các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, cùng kỷ yếu các hội thảo chuyên ngành tại Quảng Bình (2009), Thái Bình (2009) và Thừa Thiên Huế (2010).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lí luận

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng và đánh giá tổng quan bức tranh tôn giáo tại Việt Nam và vùng đồng bằng Bắc Bộ:

  • Tình hình tôn giáo tại Việt Nam: Ước tính có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó có gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo chính thức, chiếm 25% dân số cả nước. Số liệu cụ thể: Phật giáo có gần 10 triệu tín đồ quy y Tam bảo (3 triệu phật tử xuất gia, 33.066 tăng ni, 3 học viện Phật giáo với hơn 1.000 tăng ni sinh); Thiên Chúa giáo có hơn 5,5 triệu tín đồ tại 50 tỉnh/thành (42 giám mục, 2.700 linh mục, 11.282 tu sĩ, 6 Đại chủng viện); Đạo Cao Đài có hơn 2,4 triệu tín đồ; Phật giáo Hòa Hảo có gần 1,3 triệu tín đồ; Đạo Tin Lành có khoảng 1 triệu tín đồ; Hồi giáo có hơn 60 nghìn tín đồ. Cả nước có khoảng 22.000 cơ sở thờ tự.
  • Hai tôn giáo chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ:
    • Phật giáo: Du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I-II qua trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh) gắn với nhà sư Khâu-đà-la và truyền thuyết Man Nương. Phát triển cực thịnh thời Lý - Trần và hòa nhập sâu sắc vào làng xã truyền thống thời Lê - Nguyễn. Phật giáo để lại di sản đồ sộ về văn học (thơ thiền Lý - Trần của Khuông Việt, Mãn Giác, Trần Nhân Tông; truyện dân gian Thạch Quang Phật, Quan Âm Thị Kính), kiến trúc - điêu khắc (chùa Phật Tích, Bút Tháp, Tây Phương với các pho tượng La Hán, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay) và văn hóa ẩm thực chay.
    • Thiên Chúa giáo: Du nhập vào thế kỷ XVI, chọn vùng Bùi Chu (Nam Định/Ninh Bình) làm trung tâm truyền giáo đầu tiên (1640-1954). Tôn giáo này đóng góp quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ, du nhập kỹ thuật in ấn hiện đại và tạo dựng phong cách kiến trúc nhà thờ độc đáo (kết hợp lối vòm nhọn Gothique phương Tây với kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam tạo nên kiểu "nhà thờ Nam", điển hình là Nhà thờ đá Phát Diệm).
  • Giá trị văn hóa tôn giáo đối với du lịch: Tác giả khẳng định văn hóa tôn giáo là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn giá trị. Kết quả khảo sát 100 khách tại chùa Bái Đính ngày khai hội cho thấy 99% du khách đến vì động cơ tâm linh kết hợp chiêm ngưỡng kỷ lục, chỉ 1-2% đi với mục đích khám phá thuần túy.

Chương II: Du lịch và tôn giáo qua khảo sát thực tế ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ

Chương này phản ánh dữ liệu khảo sát thực tế và phân tích thực trạng khai thác du lịch tôn giáo:

  • Nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng: Dữ liệu điều tra 5.000 phiếu tại 5 tỉnh cho thấy đại bộ phận người dân đều tham gia các sinh hoạt tâm linh, tỷ lệ "chưa bao giờ tham gia" ở mức rất thấp:
Tỉnh / Thành phố Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít nhất 1 lần Chưa bao giờ Tổng số phiếu
Hà Nội 223 402 311 64 1.000
Bắc Ninh 271 385 301 45 1.000
Hưng Yên 195 355 350 100 1.000
Nam Định 230 390 300 80 1.000
Ninh Bình 245 310 363 82 1.000
  • Lượng khách tại các thánh tích, lễ hội tôn giáo năm 2010:
Thánh tích, lễ hội tôn giáo Tỉnh, thành phố Thời gian tổ chức Lượt người tham gia
Chùa Hương Hà Nội Mồng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch 1.000
Chùa Bái Đính Ninh Bình Mồng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch 5.000
Phủ Giầy Nam Định Mồng 3 đến mồng 8 tháng 3 âm lịch 500.000
Phủ Tây Hồ Hà Nội Mồng 1 tháng Giêng đến hết tháng Giêng 600.000
Đền Trần Nam Định Đêm 14 tháng Giêng âm lịch 50.000
  • Tiềm năng di tích tại các địa phương:
    • Hà Nội: Hơn 5.000 di tích (chiếm 40% cả nước), gần 1.000 di tích cấp quốc gia (Hoàng thành Thăng Long, Cổ Loa, đền Gióng, chùa Hương, chùa Tây Phương, làng cổ Đường Lâm, Nhà thờ Lớn, Nhà thờ Hàm Long).
    • Hải Dương: 1.098 di tích; gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn và Kiếp Bạc, 140 di tích cấp quốc gia, 62 di tích cấp tỉnh.
    • Hưng Yên: Hơn 2.000 di tích và hơn 500 lễ hội; riêng quần thể Phố Hiến có 128 di tích (17 di tích quốc gia, 6.022 hiện vật lịch sử).
    • Nam Định: 1.655 di tích lịch sử văn hóa (hơn 200 di tích xếp hạng); tiêu biểu là cụm di tích thời Trần (phủ Dày, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, đền Trần).
    • Ninh Bình: Quần thể chùa Bái Đính quy mô 510ha (điện Tam Thế tượng 50 tấn, điện Pháp Chủ tượng 100 tấn, 500 tượng La Hán đá Ninh Vân); quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm gồm 9 nhà thờ kiến trúc Á - Âu.
    • Vĩnh Phúc: 967 di tích (92 cấp quốc gia, 208 cấp tỉnh); nổi bật là Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên diện tích 4,5ha, rừng ngoại vi 50ha khánh thành năm 2005.
    • Hà Nam: 1.269 di tích (đền Trần Thương, chùa Long Đọi Sơn, chùa Bà Đanh).
    • Thái Bình: 2.164 di tích (386 di tích cấp tỉnh, 91 di tích quốc gia); riêng huyện Hưng Hà có 552 di tích, nổi tiếng với chùa Keo và lễ hội đền Trần.
    • Hải Phòng: Gần 1.000 di tích (đền Nghè thờ nữ tướng Lê Chân, đình Hàng Kênh thờ Ngô Quyền, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn).
  • Thực trạng và những tồn tại lớn:
    1. Chưa nhìn nhận đúng tiềm năng: Các công ty lữ hành và cơ sở thờ tự chưa coi đình, chùa, nhà thờ là điểm tham quan du lịch chuyên biệt; thiếu đội ngũ hướng dẫn viên chuyên môn, khách tham quan chủ yếu tự do đi lại và thiếu hiểu biết về nghi lễ, biểu tượng thờ tự.
    2. Chưa đầu tư thích đáng: Khai thác dựa trên tài nguyên sẵn có; thiếu ấn phẩm, tờ gấp, phim tài liệu đa ngôn ngữ; thiếu quầy lưu niệm, bãi đỗ xe và hệ thống vệ sinh đạt chuẩn.
    3. Khai thác bừa bãi và biến tướng lễ hội: Hiện tượng thương mại hóa, cảnh hỗn loạn tranh cướp ấn tại Đền Trần, lộn xộn tại Phủ Giầy, nạn buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan, trộm cắp, ăn xin và chèo kéo du khách.
    4. Xâm phạm cảnh quan di tích: Điển hình tại nội thành Hà Nội, đất đai di tích bị lấn chiếm xây dựng nhà ở, hàng quán tạm bợ nhếch nhác bủa vây, phơi phóng quần áo và ô nhiễm tiếng ồn loa đài.
    5. Trùng tu sai lệch: Tình trạng "đập phá để xây lại", "biến cổ thành tân", sơn phết tùy tiện làm biến dạng yếu tố gốc (chùa Trăm Gian, đền thờ Lý Chiêu Hoàng ở Đình Bảng - Bắc Ninh, chùa Chuông, chùa Phật Tích).
    6. Quảng bá yếu kém: Kinh phí xúc tiến du lịch tại các tỉnh chỉ đạt 100-200 triệu đồng/tỉnh (trong khi nhu cầu thực tế cần 1,8-2,5 tỷ đồng); nhân sự phụ trách công tác quảng bá tại nhiều tỉnh chỉ có 1-2 cán bộ.
    7. Sản phẩm trùng lặp: Các địa phương thiếu sản phẩm đặc thù, sao chép tour của nhau dẫn đến cạnh tranh thiếu lành mạnh.

Chương III: Một số đề xuất nhằm gắn văn hóa tôn giáo với việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở đồng bằng Bắc Bộ

Dựa trên việc phân tích những mặt được và tồn tại, chương III nêu các nhóm định hướng và giải pháp:

  • Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nhìn nhận nhu cầu tâm linh là nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân cần được định hướng lành mạnh.
  • Những giải pháp chung:
    • Quy hoạch đưa du lịch gắn liền với các di tích, lễ hội văn hóa tâm linh.
    • Xây dựng dự án cấp Quốc gia về phát triển du lịch văn hóa tâm linh.
    • Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch và bảo tồn di sản; đẩy mạnh ngân sách và nhân lực xúc tiến, quảng bá hình ảnh.
    • Học tập kinh nghiệm tổ chức tour hành hương và các khóa tu thiền từ các nước châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Myanmar.
  • Những giải pháp cụ thể:
    • Thành lập Ban chuyên trách về du lịch văn hóa tâm linh ở cấp quản lý.
    • Khuyến khích thành lập các công ty lữ hành chuyên sâu về du lịch tâm linh, đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên có kiến thức chuyên sâu về lịch sử tôn giáo, triết học và kiến trúc cổ.
    • Thành lập Ban chuyên trách tiếp đón, hướng dẫn du khách tại chính các điểm di tích, cơ sở tôn giáo (hướng dẫn thực hành nghi lễ, thuyết minh nguồn gốc di tích, cung cấp dịch vụ chay tập thể).
    • Giải quyết triệt để các vấn nạn xã hội: chấm dứt tình trạng buôn bán chèo kéo, ăn xin, trộm cắp; giải tỏa các công trình lấn chiếm khuôn viên di tích; siết chặt quy trình thẩm định, quản lý trùng tu nhằm bảo vệ tính nguyên gốc của di tích.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu thực trạng: Khóa luận cung cấp các bảng số liệu khảo sát xã hội học về nhu cầu tham gia tôn giáo tại 5 tỉnh (5.000 phiếu) và dữ liệu lượng khách tại các lễ hội lớn năm 2010. Khóa luận cũng tổng hợp số lượng di tích xếp hạng và công trình tôn giáo tiêu biểu của 9 tỉnh/thành phố đồng bằng Bắc Bộ.
  • Chỉ rõ các bất cập trong quản lý: Đề tài đã bóc tách cụ thể các nút thắt cản trở du lịch tâm linh thời điểm 2010: kinh phí quảng bá thực tế (100-200 triệu đồng) quá chênh lệch so với yêu cầu chuẩn (1,8-2,5 tỷ đồng); nhân sự mỏng (1-2 người); tình trạng di tích bị xâm phạm cảnh quan và trùng tu làm biến dạng yếu tố gốc.
  • Hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng: Tác giả đã đề xuất mô hình liên kết ba bên giữa Nhà nước, cơ sở tôn giáo và doanh nghiệp du lịch; trong đó nổi bật là kiến nghị thành lập ban chuyên trách tiếp đón ngay tại di tích và đào tạo hướng dẫn viên chuyên sâu về văn hóa tôn giáo.
  • Đóng góp học thuật: Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu sớm ở cấp đại học chuyên ngành Văn hóa Du lịch trực tiếp khảo sát và hệ thống hóa mối quan hệ giữa tài nguyên tôn giáo với du lịch tâm linh tại đồng bằng Bắc Bộ, tạo tiền đề tư liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế từ văn bản:
    • Khóa luận được thực hiện vào năm 2010, khi khái niệm "du lịch văn hóa tâm linh" tại Việt Nam mới ở giai đoạn đầu hình thành, do đó nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành trong nước về lĩnh vực này còn hạn chế như chính tác giả thừa nhận.
    • Khảo sát thực địa phỏng vấn du khách mới dừng lại ở quy mô mẫu nhỏ (100 du khách tại một địa điểm là chùa Bái Đính trong một ngày hội).
    • Bản toàn văn trích dẫn bị khuyết phần nội dung triển khai chi tiết cuối chương III do giới hạn sao lưu tài liệu gốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát xã hội học sang các đối tượng khách du lịch quốc tế và các cơ sở tôn giáo khác ngoài Phật giáo (như các giáo xứ Thiên Chúa giáo tiêu biểu tại Bùi Chu, Phát Diệm).
    • Nghiên cứu cơ chế chính sách tài chính chi tiết nhằm tái đầu tư nguồn thu từ du lịch tâm linh cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích nguyên gốc.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học và Tôn giáo học có thể sử dụng khóa luận làm tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận tài nguyên tôn giáo trong du lịch.
    • Các cán bộ quản lý văn hóa, ban quản lý di tích tại các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng trong việc nhận diện các vấn nạn thương mại hóa lễ hội và xâm lấn không gian di tích.
    • Doanh nghiệp lữ hành có tư liệu để xây dựng các tuyến điểm hành hương chuyên biệt (kết nối chùa Hương, Bái Đính, Tây Thiên, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phát Diệm).
  • Phần nội dung đáng chú ý: Bảng thống kê khảo sát nhu cầu tôn giáo tại 5 tỉnh; bức tranh tổng hợp số liệu di tích của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; và các dẫn chứng thực tế về sai phạm trong trùng tu di tích (chương II).

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ tham gia hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của người dân đồng bằng Bắc Bộ được ghi nhận như thế nào qua khảo sát của tác giả? Khảo sát 5.000 phiếu tại 5 tỉnh (Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình) cho thấy nhu cầu sinh hoạt tâm linh của người dân rất cao. Đa số người được hỏi tham gia ở mức "thỉnh thoảng" (từ 310 đến 402 phiếu) và "ít nhất 1 lần" (từ 300 đến 363 phiếu). Nhóm tham gia "thường xuyên" chiếm tỷ lệ đáng kể (từ 195 phiếu ở Hưng Yên đến 271 phiếu ở Bắc Ninh). Tỷ lệ người "chưa bao giờ" tham gia rất thấp, dao động từ 4,5% (Bắc Ninh) đến 10,0% (Hưng Yên).

2. Động cơ của du khách đến các điểm du lịch tâm linh được tác giả khảo sát tại chùa Bái Đính thể hiện ra sao? Qua phỏng vấn 100 du khách tại chùa Bái Đính vào ngày khai hội (mồng 6 tháng Giêng năm 2010), có tới 99% du khách cho biết họ đến để hành lễ, cầu xin kết hợp chiêm ngưỡng các công trình tượng Phật, quả chuông giữ kỷ lục. Chỉ có 1 đến 2 du khách đi thuần túy với mục đích khám phá một địa danh mới mà bản thân chưa từng đến.

3. Khóa luận phản ánh những bất cập gì về ngân sách và nhân lực quảng bá du lịch tâm linh tại đồng bằng sông Hồng? Theo số liệu từ Tổng cục Du lịch được trích dẫn trong khóa luận, công tác xúc tiến du lịch tại khu vực đồng bằng sông Hồng rất hạn chế. Mỗi tỉnh chỉ bố trí được khoảng 100 đến 200 triệu đồng cho công tác tuyên truyền, quảng bá (trong khi yêu cầu thực tế cần từ 1,8 đến 2,5 tỷ đồng/tỉnh). Về nhân sự, nhiều tỉnh chỉ có vỏn vẹn 1 đến 2 cán bộ chuyên trách công tác này.

4. Những sai phạm cụ thể nào trong công tác bảo tồn và trùng tu di tích được tác giả nêu lên? Tác giả dẫn chứng tình trạng xâm phạm nghiêm trọng đất đai di tích tại nội thành Hà Nội, nơi người dân lấn chiếm đất dựng nhà ở, dựng lều quán nhếch nhác che lấp lối vào. Về trùng tu, xuất hiện trào lưu "đập phá để xây lại", "biến cổ thành tân", sơn phết lòe loẹt và đưa đồ thờ tự không phù hợp vào khuôn viên, điển hình tại chùa Trăm Gian (Hà Nội), đền thờ Lý Chiêu Hoàng (Đình Bảng - Bắc Ninh), chùa Chuông (Hưng Yên) và chùa Phật Tích (Bắc Ninh).

5. Hai tôn giáo chính ở đồng bằng Bắc Bộ đóng góp những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nào cho phát triển du lịch? Phật giáo đóng góp hệ thống chùa chiền cổ kính (chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương), nghệ thuật điêu khắc tượng pháp (tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, tượng La Hán), văn học Phật giáo dân gian (truyện Quan Âm Thị Kính) và văn hóa ẩm thực chay. Thiên Chúa giáo đóng góp di sản chữ Quốc ngữ, kỹ thuật in ấn hiện đại và phong cách kiến trúc nhà thờ độc đáo kết hợp phong cách Gothique phương Tây với nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ truyền của người Việt (điển hình là quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm).

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Trần Thị Thêu đã phân tích tương đối có hệ thống mối quan hệ giữa văn hóa tôn giáo và hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại vùng đồng bằng Bắc Bộ ở thời điểm năm 2010. Dựa trên dữ liệu điều tra thực tế tại 5 tỉnh và thống kê di tích tại 9 địa phương, tác giả đã phản ánh rõ tiềm năng to lớn đi đôi với những bất cập trong quản lý điểm đến, tổ chức lễ hội và bảo tồn di tích. Công trình đề xuất được hệ thống giải pháp gắn kết giữa bảo tồn di sản tôn giáo với khai thác dịch vụ du lịch, cung cấp nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho công tác đào tạo chuyên ngành và quản lý du lịch văn hóa tâm linh tại địa phương.