Tổng quan luận án

Công trình "Thực hành văn hóa của cư dân vùng tái định cư ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mai Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Thị Diệu Trang và TS. Đoàn Thị Tuyến, thuộc chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2024).

Luận án xuất phát từ bối cảnh thực tiễn của các chương trình tái định cư (TĐC) bắt buộc phục vụ các dự án phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) tại Việt Nam, trọng tâm là việc hình thành và mở rộng Khu Kinh tế Vũng Áng (KKTVA) tại thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Việc triển khai các dự án quy mô lớn—đặc biệt là Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương của Tập đoàn Formosa—đã buộc hàng nghìn hộ dân ven biển phải rời bỏ không gian sinh tồn truyền thống gắn bó lâu đời để di dời vào các khu TĐC tập trung. Quá trình này tạo ra những biến đổi và xáo trộn sâu sắc đối với cấu trúc sinh kế, tổ chức không gian nhà ở, sinh hoạt cộng đồng và thực hành văn hóa tâm linh.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình đánh giá chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc khảo sát biến đổi kinh tế - xã hội thuần túy tại các vùng TĐC thủy điện và công nghiệp, các nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ Văn hóa học về thực hành văn hóa thường ngày, văn hóa sinh kế và văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ven biển sau khi TĐC vào không gian quy hoạch đô thị mới ở Kỳ Anh vẫn chưa được khai thác toàn diện và hệ thống.

Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc mô tả, phân tích các thực hành văn hóa của người dân TĐC ở Kỳ Anh trên các phương diện văn hóa sinh kế, văn hóa thường ngày và văn hóa tín ngưỡng, luận án làm rõ quá trình thích ứng trong thực hành văn hóa của người dân sau TĐC, chỉ ra cách thức tái cấu trúc văn hóa trong bối cảnh CNH-HĐH tại địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Mô tả và phân tích thực trạng các thực hành văn hóa của cư dân TĐC ở Kỳ Anh trong không gian sinh tồn mới, bao gồm: văn hóa sinh kế, văn hóa thường ngày và văn hóa tín ngưỡng.
  2. Nhận diện và bàn luận về những thay đổi đặt ra từ thực trạng các thực hành văn hóa của cư dân TĐC ở Kỳ Anh hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Các thực hành văn hóa của cộng đồng cư dân TĐC ở Kỳ Anh hiện nay, đồng thời tìm hiểu các thực hành văn hóa truyền thống trong quá khứ trước khi di dời để làm cơ sở so sánh, đối chiếu.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba thành tố văn hóa tiêu biểu chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình TĐC: Thực hành văn hóa sinh kế, thực hành văn hóa thường ngày và thực hành văn hóa tín ngưỡng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ năm 2010 (thời điểm bắt đầu triển khai các dự án di dời TĐC tại Kỳ Lợi) đến năm 2024.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại khu TĐC Kỳ Lợi chuyển cư sinh sống tại phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh (gồm 298 hộ dân thuộc thôn 1 Tân Phúc Thành và một phần thôn 2 Tân Phúc Thành).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm công trình chính:

  1. Các nghiên cứu về tái định cư và chính sách tái định cư:
  • Các tài liệu hướng dẫn và báo cáo của các tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (World Bank) với các ấn phẩm Operations Policy Issues in the Treatment of Involuntary Resettlement, Sách hướng dẫn về TĐC không tự nguyện - việc hoạch định và thực hiện các dự án phát triển, Resettlement and Development, Resettlement and development: The Bankwide review of projects; Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với Involuntary Resettlement Policy Review, Involuntary Resettlement, Operational Manual, Sổ tay về TĐC - hướng dẫn áp dụng vào thực tiễn. Nhóm nghiên cứu này định hình các nguyên tắc giảm thiểu TĐC bắt buộc, đền bù thỏa đáng và phục hồi sinh kế.
  • Các công trình nghiên cứu phương pháp luận và đánh giá chính sách: Christopher McDowell (2002) với Các phương pháp tiếp cận nhân học về TĐC - Chính sách, thực tiễn và lý thuyết và TĐC, nguy cơ nghèo hoá các vấn đề sinh kế bền vững; Cao Thị Thu Yên (2003) nghiên cứu tính bền vững và TĐC ở các đập thủy điện; Ulrika Bladh và Eva-Lena Nilsson (2005) về quy trình lập kế hoạch TĐC dự án thủy điện Sơn La; Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan (2000) so sánh chính sách TĐC Việt Nam và quốc tế; Nguyễn Ngọc Tuấn (2004) tổng kết kinh nghiệm TĐC ở châu Á và Việt Nam; Võ Kim Cương (2007) nhìn nhận TĐC như một phương án phát triển đa ngành; Trần Văn Hà (chủ biên, 2011) với công trình nghiên cứu liên ngành của Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN); cùng các công trình của Đặng Nguyên Anh (2007), Tống Văn Chung (2005), Trương Thị Ngọc Lan (2004), Khúc Thị Thanh Vân (2007) về thủy điện Bản Vẽ.
  1. Các nghiên cứu về thực hành văn hóa, sinh kế gắn với quá trình tái định cư:
  • Đánh giá chất lượng sống và văn hóa vùng TĐC thủy điện: Nguyễn Đức Anh (2007) tại hồ Tả Trạch; Đoàn Bổng (2009) tại thủy điện A Vương; Phạm Quang Hoan (chủ biên, 2012) nghiên cứu văn hóa tộc người vùng TĐC thủy điện Sơn La; Trung tâm Dân số, Môi trường và Phát triển (2008) tại Tương Dương, Nghệ An; Bùi Văn Đạo (2011) tại Tây Nguyên; Vi Văn An và Bùi Minh Thuận (2012) tại Thanh Chương, Nghệ An; Hoàng Thị Thái Vân (2015) và Phạm Quang Linh (2017) khảo sát biến đổi sinh kế, vốn xã hội của người Thái TĐC thủy điện Sơn La; Nguyễn Thị Hoa (2014) về người Tày ở Tuyên Quang; Trịnh Thị Hạnh (2017) về người Mường ở Hòa Bình; Bùi Minh Thuận (2017) về nhóm Đan Lai ở Vườn quốc gia Pù Mát.
  • Tác động TĐC tại các khu công nghiệp và đô thị: Phan Huy Xu (2004), Võ Hưng (2003) tại TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Sen (2008) tại Bình Dương; Nguyễn Hồng Sơn (2010), Nguyễn Thị Yến (2004) tại vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ; Đinh Như Hoài (2016) nghiên cứu biến đổi văn hóa làng người Kinh dưới tác động TĐC Khu kinh tế Dung Quất.
  1. Các nghiên cứu về văn hóa cư dân ven biển và tái định cư ở Hà Tĩnh:
  • Văn hóa biển và tín ngưỡng ngư dân: Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2000) khảo sát làng biển Cửa Sót và Nhượng Bạn; Phan Thị Yến Tuyết (2016) về cư dân ven biển Nam Bộ; Đặng Thị Thúy Hằng (2021) nghiên cứu biến đổi văn hóa cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH-HĐH; Lê Thị Hiếu (2018) tại Cửa Lò; Nguyễn Duy Thiệu (1984, 2002, 2003, 2005, 2007) về cộng đồng ngư dân thủy cư, người Bồ Lô, Vạn Kỳ Xuyên; Lê Hồng Lý (2002); Trần Thị An (2015); Nguyễn Đăng Vũ (2016); Trần Hồng Liên (2004); Lê Văn Kỳ (2021); Lê Thế Vịnh và Nguyễn Hoài Sơn (2011); Nguyễn Thanh Lợi (2006); Lê Quang Nghiêm (1987); Lê Thị Thu Hiền (2017).
  • TĐC tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh: Nguyễn Thị Nguyệt (2015) về biến đổi văn hóa gia đình; Nguyễn Văn Hoà (2017) về nhu cầu giao tiếp; các bài viết về chính sách bồi thường của Hồ Huy Thành (2010), Phan Thiết Dũng (2013), Nguyễn Ngọc Sơn (2017), Hoàng Thị Mai Huyền (2015).

Vị trí của luận án: Kế thừa các cứ liệu về chính sách và văn hóa biển từ các tác giả đi trước, luận án định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới lăng kính Văn hóa học, tập trung phân tích sự thích ứng và tái cấu trúc thực hành văn hóa thường ngày, sinh kế và tín ngưỡng của nhóm cư dân ngư nghiệp Kỳ Lợi khi chuyển đổi môi trường sống sang khu TĐC tập trung tại Kỳ Trinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và cách tiếp cận lý thuyết

Luận án xác lập hệ thống khái niệm công cụ và hai lý thuyết tiếp cận chủ đạo:

  • Khái niệm Thực hành văn hóa: Dựa trên định nghĩa văn hóa của E.B. Tylor (1871), Gary Ferraro (1995), Chris Barker (2011) và phân loại của Trần Đức Ngôn (2017), thực hành văn hóa được xác định là sự tái hiện các hình thức văn hóa thông qua hoạt động của con người, gồm: thực hành văn hóa tâm linh, thực hành văn hóa sinh hoạt và thực hành văn hóa lao động. Macionis (1999) cũng được trích dẫn để luận giải sự biến đổi thực hành văn hóa dưới tác động của tính hiện đại.
  • Khái niệm Văn hóa sinh kế: Tiếp cận từ khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (dẫn theo Nguyễn Văn Sửu, 2010), Từ điển Tiếng Việt (2006), Phạm Quang Linh (2017) và Ngô Thị Lan Phương (2019). Luận án xác định thực hành văn hóa sinh kế là các phương thức kiếm sống, tổ chức lao động sản xuất, phân bổ thời gian và khai thác tài nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và thích nghi với môi trường sinh thái - xã hội mới.
  • Khái niệm Văn hóa thường ngày: Kế thừa quan điểm của Martin (2003, dẫn theo Phạm Quỳnh Phương, 2014), Turner & Michaud (2015), Karim & Hashim (2010) về lối sống, các hành vi lặp lại gắn với không gian nhà ở, ẩm thực, tiêu dùng, ứng xử gia đình và cộng đồng.
  • Khái niệm Văn hóa tín ngưỡng: Dựa trên lý thuyết của Patrick B. Mullen, Ngô Đức Thịnh (1999, 2010) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016). Tín ngưỡng là hệ thống niềm tin và thực hành nghi lễ thiêng liêng giúp gắn kết cộng đồng và mang lại sự an tâm tinh thần.
  • Khái niệm Tái định cư: Phân biệt giữa di dời tự phát (displacement/IDP theo Cernea & McDowell 2000, Hines & Balletto 2002) và TĐC có kế hoạch (Chambers 1969, Bahry 2010, Võ Kim Cương 2007, Phạm Quang Linh 2017). TĐC tại Kỳ Anh được xác định là hình thức TĐC tập trung do nhà nước quản lý quy hoạch.

Hai khung lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết thay đổi xã hội (Social Change Theory): Đại diện bởi Thorstein Veblen (1998), Cernea (1996), Ellen, Parkes & Bicker (2000), Rahmato (2003), Oliver-Smith (1996). Lý thuyết nhấn mạnh môi trường địa phương định hình thói quen, thế giới quan và thể chế. Luận án lập luận rằng việc di dời xa biển để nhường đất cho KKT Vũng Áng tạo ra sự thay đổi môi trường sống căn bản, dẫn đến xu hướng "nhạt biển" trong các thực hành sinh kế, ứng xử cộng đồng và tín ngưỡng.
  2. Lý thuyết hiện đại hóa (Modernization Theory): Dựa trên quan điểm của Rostow (Rist 2002), McElroy & Townsend (1989), Ferdinand Tönnies, Peter Berger, Emile Durkheim, Max Weber, Macionis (2006), Bussmann (2015), Gomes (2007), Olawepo & Lawal (2010). Lý thuyết giải thích sự chuyển dịch từ kinh tế tự nhiên/truyền thống sang kinh tế thị trường, phân công lao động chuyên môn hóa, tái trật tự hóa không gian đô thị và sự thích ứng linh hoạt giữa bảo lưu truyền thống với tiếp nhận yếu tố mới.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích tài liệu:

  • Quan sát tham dự: Tác giả lưu trú trực tiếp tại nhà dân ở khu TĐC Kỳ Trinh; cùng ăn, ngủ, sinh hoạt; tham gia các hoạt động thể thao (cầu lông), giao lưu văn nghệ; tham gia các hoạt động buôn bán, trò chuyện với chủ hộ và hàng xóm; quan sát và ghi hình, ghi âm các lễ cúng ngày rằm, mồng một tại gia đình và đền thờ thần.
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện trên nhiều nhóm đối tượng từ 18 đến 75 tuổi, gồm cán bộ lãnh đạo xã Kỳ Lợi, cán bộ thôn Tân Phúc Thành; ngư dân tiếp tục giữ nghề biển; người chuyển đổi sang buôn bán, dịch vụ; người làm nghề tự do; gia đình có người đi xuất khẩu lao động hoặc làm công nhân. Toàn bộ dữ liệu phỏng vấn được gỡ băng và mã hóa tên nhân vật để bảo mật thông tin.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức tại hội trường thôn và khu vực chợ với các thành phần dân cư đa dạng về độ tuổi và giới tính để thu thập đánh giá đa chiều về biến đổi đời sống.
  • Phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác các báo cáo quy hoạch, thống kê của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh (Báo cáo số 98/BC-KKT ngày 09/12/2022), Tỉnh ủy Hà Tĩnh (Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU năm 2017), UBND xã Kỳ Lợi và Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Kỳ Anh.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng hợp hiện trạng quy hoạch các khu tái định cư tại Kỳ Anh

Khu tái định cư Địa bàn hành chính Diện tích quy hoạch Quy mô dân số bố trí Đặc điểm phân bổ
Khu TĐC Kỳ Lợi Phường Kỳ Trinh 20,9 ha 298 hộ gia đình Gồm thôn 1 và một phần thôn 2 Tân Phúc Thành; cách trung tâm thị xã 3km về phía Nam, gần Quốc lộ 1A
Khu TĐC Kỳ Thịnh Phường Kỳ Thịnh 126,79 ha Khoảng 260 hộ dân Nằm gần đường tránh 1B, cách trung tâm thị xã khoảng 16km
Khu TĐC Ba Đồng Phường Kỳ Phương 99,45 ha Khoảng 903 hộ dân Bố trí dân cư xã Kỳ Lợi (thôn Đông Yên), nằm sát chân đèo Con
Khu TĐC Minh Huệ Xã Kỳ Nam 46,0 ha Gần 423 hộ dân Bố trí dân cư xã Kỳ Lợi, nằm sát chân đèo Ngang
Khu TĐC Kỳ Liên Phường Kỳ Liên 45,3 ha Khoảng 430 hộ dân Nằm gần trung tâm khu công nghiệp Formosa

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về TĐC, văn hóa biển và TĐC tại Hà Tĩnh; làm rõ hệ thống khái niệm và cơ sở lý thuyết (thay đổi xã hội, hiện đại hóa); đồng thời phác thảo bức tranh kinh tế - chính sách tại địa bàn.

  • Bối cảnh chính sách: Quá trình thành lập KKT Vũng Áng theo Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 03/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ (quy mô 22.781 ha trên 9 xã phía Nam huyện Kỳ Anh) và Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 phê duyệt Quy hoạch chung đến năm 2025. Nghị quyết 903/NQ-UBTVQH ngày 10/4/2015 thành lập thị xã Kỳ Anh.
  • Tình hình thu hút đầu tư: Báo cáo số 98/BC-KKT (09/12/2022) ghi nhận KKT Vũng Áng thu hút 153 dự án (56 dự án FDI với vốn đăng ký 16.933 triệu USD; 97 dự án trong nước với vốn 55.020 tỷ đồng). Tổng số lao động đạt 18.532 lao động Việt Nam và 1.230 lao động nước ngoài. Dự án Formosa giải quyết việc làm cho 11.663 người (10.673 lao động Việt Nam và 990 lao động nước ngoài). Thu ngân sách xuất nhập khẩu đạt 7.669,57 tỷ đồng (tăng 19,26%), thu nội địa đạt 1.513,80 tỷ đồng (tăng 39,17%).
  • Quy mô giải tỏa, di dời: Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU (2006-2017) cho thấy toàn thị xã thực hiện 174 dự án, thu hồi 5.102 ha đất, di chuyển 42.000 ngôi mộ, bố trí TĐC cho 4.191 hộ. Riêng dự án Formosa thu hồi đất ảnh hưởng đến 2.000 lượt hộ, phải di dời TĐC 3.979 hộ, cất bốc hơn 16.000 ngôi mộ, di dời 24 đình chùa miếu mạo, 53 nhà thờ họ và 2 nhà thờ Thiên Chúa giáo.
  • Địa bàn khảo sát: Cư dân xã Kỳ Lợi trước TĐC phân bố tại 10 thôn (Hải Phong 1, 2; Hải Thanh; Tân Phúc Thành 1, 2, 3; Đông Yên 1, 2, 3, 4). Điểm nghiên cứu trọng tâm tại phường Kỳ Trinh tiếp nhận 298 hộ thôn 1 và một phần thôn 2 Tân Phúc Thành trên diện tích 20,9 ha, đất ở phân lô 400 m²/hộ theo mô hình ô bàn cờ đô thị.

Chương 2: Thực hành văn hoá sinh kế của cư dân tái định cư ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh

Chương 2 mô tả chi tiết sự chuyển đổi trong cơ cấu sản xuất và các hành vi mưu sinh của cư dân TĐC:

  • Thực hành văn hóa sinh kế liên quan tới biển: Khai thác, đánh bắt thủy hải sản truyền thống bị suy giảm do khoảng cách từ khu TĐC Kỳ Trinh ra bến biển xa hơn trước, bãi neo đậu thuyền bè bị thu hẹp bởi các công trình cảng biển và khu công nghiệp. Người dân phải điều chỉnh ngư cụ, thay đổi ngư trường hoặc chuyển đổi từ đánh bắt gần bờ sang đánh bắt xa bờ.
  • Chế biến thủy hải sản: Các nghề chế biến nước mắm, phơi sấy cá, mực truyền thống vốn gắn với không gian sân bãi ven biển rộng rãi bị thu hẹp diện tích sản xuất khi chuyển vào lô đất ở cố định 400 m² tại khu TĐC đô thị, dẫn đến việc giảm quy mô hoặc thay đổi công nghệ bảo quản.
  • Hoạt động buôn bán, dịch vụ: Sự xuất hiện của hàng chục nghìn chuyên gia, công nhân tại KKT Vũng Áng tạo điều kiện cho một bộ phận cư dân chuyển đổi sang kinh doanh hàng ăn, nhà trọ, tạp hóa, dịch vụ vận tải và buôn bán nhỏ phục vụ đời sống đô thị công nghiệp.
  • Các thực hành sinh kế khác: Lao động trẻ chuyển sang làm công nhân trong các nhà máy, công trường thuộc KKT Vũng Áng hoặc tham gia xuất khẩu lao động; người lớn tuổi chuyển sang làm lao động tự do, chăn nuôi nhỏ lẻ trong khuôn viên đất ở hoặc tìm kiếm việc làm thời vụ.

Chương 3: Thực hành văn hóa thường ngày và văn hóa tín ngưỡng của cư dân tái định cư ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh

Chương 3 phân tích những chuyển biến trong sinh hoạt đời thường và đời sống tâm linh:

  • Văn hóa thường ngày:
    • Không gian nhà cửa và điều kiện sinh hoạt: Chuyển đổi từ mô hình làng biển truyền thống với khuôn viên mở sang nhà ống, nhà tầng xây dựng kiên cố trên các lô đất 400 m² quy hoạch bàn cờ. Cơ sở hạ tầng điện, đường nhựa, trường học, trạm y tế được hoàn thiện theo tiêu chí đô thị, song phát sinh bất cập về nguồn nước sinh hoạt và thiếu đất sản xuất nông nghiệp.
    • Ẩm thực và tiêu dùng: Chuyển dần từ mô hình tự cung tự cấp sản phẩm biển sang phụ thuộc vào hệ thống chợ và mạng lưới hàng hóa tiêu dùng thương mại.
    • Ứng xử và quan hệ cộng đồng: Quan hệ xóm giềng khép kín hơn; xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo dựa trên mức tiền đền bù và khả năng chuyển đổi nghề nghiệp; quan hệ giới có sự thay đổi khi phụ nữ tham gia tích cực vào các hoạt động buôn bán, dịch vụ mới.
    • Các thực hành văn hóa mới: Hình thành các thói quen giải trí đô thị, tham gia thể thao phong trào (đánh cầu lông tại nhà văn hóa thôn), sinh hoạt văn nghệ quần chúng.
  • Thực hành văn hóa tín ngưỡng:
    • Trong gia đình: Duy trì thờ cúng tổ tiên, cúng rằm, mồng một, giỗ chạp; bàn thờ được thiết kế bài trí lại phù hợp với kiến trúc nhà tầng hiện đại.
    • Trong dòng họ: Hoạt động tế tự họ tộc được duy trì sau khi các nhà thờ họ được cấp đất xây dựng lại tại khu TĐC mới; củng cố mối liên kết dòng tộc trong bối cảnh phân tán không gian cư trú.
    • Trong cộng đồng: Tái lập các cơ sở thờ tự dân gian (đền thờ thần hoàng, miếu mạo ven biển) tại nơi ở mới; duy trì các nghi lễ cầu yên, lễ hội truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu an tâm tinh thần của cư dân trước những biến động môi trường sống.

Chương 4: Thực hành văn hoá của cư dân tái định cư ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh: Một số vấn đề bàn luận

Chương 4 tổng hợp và nâng cấp các phát hiện thực địa lên mức độ lý luận:

  • Tác động của thay đổi môi trường sống: Việc tách rời không gian tự nhiên ven biển dẫn đến sự "nhạt biển" trong cấu trúc văn hóa, làm đứt gãy một số tri thức bản địa về ngư trường, thời tiết và kỹ thuật đánh bắt truyền thống.
  • Tái trật tự hóa không gian và mối quan hệ cộng đồng: Quy hoạch phân lô đô thị làm biến đổi tính cố kết làng chài truyền thống; các mối quan hệ xã hội chuyển dịch từ gắn kết huyết thống, xóm giềng tự nhiên sang các tương tác kinh tế - dịch vụ mang tính cá nhân và thực dụng hơn.
  • Sự thích ứng và tái cấu trúc văn hóa: Người dân không thụ động trước hoàn cảnh mà thể hiện tính năng động, linh hoạt thông qua việc kết hợp các nguồn vốn xã hội, đa dạng hóa nguồn thu nhập và cải biên các thực hành tín ngưỡng dân gian để phù hợp với không gian mới.
  • Thách thức và cơ hội: Thách thức về ô nhiễm, thiếu nước, thất nghiệp ở lao động lớn tuổi, bất ổn sinh kế dài hạn; cơ hội về cải thiện điều kiện hạ tầng kỹ thuật, tiếp cận giáo dục, y tế và mở rộng giao lưu kinh tế với khu vực đô thị hóa Vũng Áng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ Văn hóa học về thực hành văn hóa sau TĐC tại khu vực ven biển miền Trung trong bối cảnh phát triển khu công nghiệp - cảng biển quy mô lớn.
  • Bổ sung luận cứ khoa học vào lý thuyết thay đổi xã hội và lý thuyết hiện đại hóa: Minh chứng rằng quá trình TĐC bắt buộc không chỉ là sự dịch chuyển cơ học về địa lý hay bồi thường kinh tế, mà là một quá trình tái cấu trúc toàn diện không gian văn hóa, trong đó diễn ra sự đan xen giữa bảo lưu truyền thống biển và tiếp nhận các yếu tố văn hóa đô thị - công nghiệp.
  • Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học thực địa cập nhật, phản ánh chân thực đời sống văn hóa sinh kế, sinh hoạt thường nhật và tâm linh của cư dân TĐC Kỳ Lợi tại phường Kỳ Trinh.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở thực chứng giúp các nhà quản lý văn hóa, chính quyền địa phương và Ban Quản lý KKT Vũng Áng nhận diện những đứt gãy văn hóa và bất cập sinh kế phát sinh sau TĐC.
  • Gợi mở các khuyến nghị chính sách:
    • Hoàn thiện quy hoạch không gian TĐC gắn liền với không gian sản xuất đặc thù của cư dân ven biển (bến bãi neo đậu tàu thuyền, khu chế biến hải sản).
    • Xây dựng chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm bền vững cho các nhóm lao động trung niên và cao tuổi mất đất sản xuất.
    • Hỗ trợ bảo tồn và phục hồi các thiết chế văn hóa tâm linh, tín ngưỡng dân gian cộng đồng nhằm đảm bảo ổn định tâm lý xã hội và củng cố liên kết cộng đồng tại nơi ở mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn nghiên cứu chuyên sâu của luận án tập trung chủ yếu vào nhóm cư dân xã Kỳ Lợi chuyển cư về khu TĐC phường Kỳ Trinh (thôn 1 và một phần thôn 2 Tân Phúc Thành). Do đặc thù nghiên cứu định tính và giới hạn nguồn lực điền dã, luận án chưa thể bao quát chi tiết toàn bộ các khu TĐC khác tại KKT Vũng Áng (như Ba Đồng, Minh Huệ, Kỳ Thịnh, Kỳ Liên).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát so sánh liên khu vực giữa các điểm TĐC ven biển chịu ảnh hưởng của công nghiệp nặng với các điểm TĐC vùng lòng hồ thủy điện hoặc TĐC đô thị thuần túy.
    • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá sự biến đổi văn hóa và khả năng phục hồi sinh kế của các thế hệ thứ hai, thứ ba tại vùng TĐC Kỳ Anh sau 15–20 năm định cư.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và khung lý thuyết phân tích thực hành văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi xã hội.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý dự án: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về những hệ quả phi kinh tế của quá trình thu hồi đất, giúp hoàn thiện quy trình đánh giá tác động xã hội - văn hóa (SIA) trong các dự án di dân TĐC công nghiệp.
  • Đối với chính quyền địa phương thị xã Kỳ Anh và tỉnh Hà Tĩnh: Cung cấp các số liệu và nhận định cụ thể phục vụ công tác quản lý văn hóa cơ sở, xây dựng nếp sống văn hóa mới gắn với bảo tồn giá trị truyền thống tại các khu dân cư đô thị hóa.

Câu hỏi thường gặp

  1. Địa bàn khảo sát trọng tâm của luận án là khu tái định cư nào và có quy mô ra sao? Luận án tập trung nghiên cứu tại khu TĐC Kỳ Lợi chuyển cư sinh sống tại phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Khu vực này có quy mô diện tích 20,9 ha, tiếp nhận 298 hộ dân thuộc thôn 1 Tân Phúc Thành và một phần thôn 2 Tân Phúc Thành, mỗi hộ được phân chia lô đất ở cố định 400 m².

  2. Khung lý thuyết chính được luận án sử dụng để phân tích thực hành văn hóa của cư dân là gì? Luận án vận dụng hai khung lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết thay đổi xã hội (Social Change Theory của Thorstein Veblen, Cernea, Oliver-Smith) để giải thích sự thay đổi môi trường sống tự nhiên dẫn đến biến đổi thế giới quan và xu hướng "nhạt biển" trong thực hành văn hóa; và Lý thuyết hiện đại hóa (Modernization Theory của Rostow, Ferdinand Tönnies, Peter Berger, Macionis) để làm rõ sự chuyển dịch từ kinh tế truyền thống sang kinh tế thị trường, phân công lao động chuyên môn hóa và tái cấu trúc quan hệ cộng đồng.

  3. Khái niệm "thực hành văn hóa sinh kế" được luận án định nghĩa như thế nào? Thực hành văn hóa sinh kế được hiểu là các phương thức kiếm sống của cá nhân hoặc cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần; bao gồm các hoạt động tổ chức lao động sản xuất, phân bổ thời gian, khai thác tài nguyên và tạo ra sản phẩm để tiêu dùng hoặc trao đổi hàng hóa, qua đó thể hiện sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nơi TĐC.

  4. Dự án Formosa và quá trình giải phóng mặt bằng tại Kỳ Anh đã tác động đến các cơ sở tâm linh, tín ngưỡng ở quy mô nào? Theo số liệu từ Báo cáo số 98/BC-KKT và Báo cáo tổng kết Nghị quyết 01-NQ/TU, quá trình giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Formosa đã phải di dời, cất bốc hơn 16.000 ngôi mộ (tổng thể các dự án trên địa bàn thị xã từ 2006-2017 là 42.000 ngôi mộ), di dời 24 đình chùa miếu mạo, 53 nhà thờ họ và 2 nhà thờ Thiên Chúa giáo.

  5. Tác giả luận án đã sử dụng những kỹ thuật điền dã dân tộc học cụ thể nào để thu thập dữ liệu? Tác giả đã thực hiện quan sát tham dự bằng cách lưu trú tại nhà dân, cùng ăn uống, sinh hoạt, tham gia thể thao, văn nghệ, hỗ trợ buôn bán, tham dự và ghi hình các lễ cúng rằm, mồng một; tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ xã/thôn và các nhóm cư dân từ 18 đến 75 tuổi với danh tính được mã hóa; đồng thời tổ chức thảo luận nhóm tại nhà văn hóa thôn và chợ.

Kết luận

Luận án "Thực hành văn hóa của cư dân vùng tái định cư ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh" của tác giả Nguyễn Mai Hương là công trình nghiên cứu hệ thống về sự biến đổi và thích ứng văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa tại Khu Kinh tế Vũng Áng. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết thay đổi xã hội, lý thuyết hiện đại hóa và phương pháp điền dã dân tộc học chuyên sâu, tác giả đã làm sáng tỏ bức tranh thực hành văn hóa trên ba bình diện: sinh kế, đời sống thường ngày và tín ngưỡng tâm linh. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính chủ động, linh hoạt của cư dân trong việc tái cấu trúc không gian sống, đồng thời chỉ ra những đứt gãy văn hóa truyền thống cần được khắc phục bằng các chính sách hỗ trợ đồng bộ. Công trình đóng góp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học cho chuyên ngành Văn hóa học và cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, quản lý phát triển xã hội bền vững tại các vùng tái định cư công nghiệp ven biển.