Tổng quan luận án
Đề tài "Định kiến xã hội về người cao tuổi ở Hải Phòng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Thái Hạnh tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022, thuộc chuyên ngành Xã hội học (mã số: 931 03 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Phương Đình và TS. Phan Tân.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thế kỷ XXI được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2016) và Liên Hợp Quốc (UN, UNFPA, 2015) xác định là thế kỷ già hóa dân số. Trên thế giới, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên được dự báo tăng gấp đôi từ 11% năm 2000 lên 22% vào năm 2050. Tại khu vực ASEAN, dân số cao tuổi năm 2015 có gần 60 triệu người (chiếm 9,3%), dự kiến tăng lên 24% vào năm 2050. Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 và là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Quá trình chuyển từ xã hội "già hóa" (nhóm 60+ tuổi chiếm 10%) sang "dân số già" (nhóm 60+ tuổi chiếm 20%) ở Việt Nam chỉ kéo dài khoảng 22 năm, ngắn hơn nhiều so với Australia (73 năm), Hoa Kỳ (69 năm) hay Canada (65 năm). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 73,6 tuổi, và đến năm 2039 chỉ số già hóa dự báo sẽ đạt mức 113.
Về mặt nhận thức xã hội, hai luồng quan điểm lớn chi phối cách tiếp cận tuổi già: quan điểm xem người cao tuổi (NCT) là sự thoái lui, gánh nặng phụ thuộc xã hội (Cumming & Henry, 1961) và quan điểm già hóa năng động, già hóa tích cực coi NCT là nguồn lực xã hội (Walker, 2002, 2009; Strawbridge, Wallhagen & Cohen, 2002). Tại Việt Nam, định kiến tiêu cực về NCT vẫn tồn tại dai dẳng trong văn hóa ("Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già"), trong truyền thông (thường miêu tả NCT già nua, ốm yếu, lụ khụ) và trong việc thực thi chính sách. Luật Người cao tuổi được ban hành năm 2009 nhưng các hướng dẫn thực thi còn nghiêng về phụng dưỡng, trợ cấp, thiếu các nghị định cụ thể nhằm hỗ trợ việc làm, đào tạo kỹ năng để phát huy tiềm năng của NCT. Hầu hết các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận NCT ở góc độ y tế, dịch tễ học và chăm sóc sức khỏe. Do đó, việc nghiên cứu định kiến xã hội về NCT từ góc nhìn xã hội học thực nghiệm, nhận diện các khía cạnh định kiến và các yếu tố tác động là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Địa bàn thành phố Hải Phòng là đô thị có tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ bứt phá (giai đoạn 2016-2020, tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp đạt bình quân 20,8%/năm; dịch vụ đạt 9,46%/năm). Năm 2019, thành phố có trên 25 vạn NCT, chiếm 12,5% dân số. Thành phố đặt mục tiêu giai đoạn 2022-2025 có ít nhất 80% NCT có nhu cầu và khả năng lao động được giải quyết việc làm, 500 NCT được hỗ trợ chuyển đổi nghề và 300 hộ gia đình có NCT được vay vốn ưu đãi. Sự chuyển dịch nhanh chóng từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ tại Hải Phòng phản ánh toàn diện những biến đổi về quan niệm và định kiến đối với NCT.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài về các khái niệm: người cao tuổi, định kiến xã hội về người cao tuổi.
- Tìm hiểu thực trạng, nhận diện sắc thái các loại hình định kiến đối với NCT tại địa bàn nghiên cứu.
- Nhận diện các yếu tố tác động đến sự hình thành định kiến đối với NCT tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích hàm ý chính sách và đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của định kiến xã hội, phát huy tính tích cực của NCT.
Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm: hệ thống hóa Thuyết hoạt động, Thuyết tương tác biểu trưng, Lý thuyết dán nhãn; thiết lập khung phân tích và hệ thống biến số; tiến hành thu thập dữ liệu định tính và định lượng; xác định mức độ tác động của các yếu tố đến định kiến NCT; đưa ra khuyến nghị chính sách.
Câu hỏi nghiên cứu
- Các loại hình định kiến xã hội đối với NCT tại thành phố Hải Phòng có tiêu cực không?
- Yếu tố nào tác động đến sự hình thành định kiến xã hội đối với NCT tại thành phố Hải Phòng?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết H1: Các loại hình định kiến xã hội đối với NCT tại thành phố Hải Phòng ít mang sắc thái tiêu cực.
- Giả thuyết H2: Mức độ đồng tình với các khuôn mẫu tiêu cực về NCT trong tương tác xã hội và trên truyền thông tỷ lệ thuận với định kiến xã hội tiêu cực về NCT.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Định kiến xã hội về NCT ở Hải Phòng.
- Khách thể nghiên cứu: Người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) tại thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi không gian: Thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2020 - 2022 (thời gian thu thập dữ liệu thực địa từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 12 năm 2021).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các loại hình định kiến (tiêu dùng, tiếp nối, bản sắc) và các yếu tố tác động đến sự hình thành định kiến xã hội về NCT.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế về chủ nghĩa tuổi tác (ageism) và định kiến xã hội đối với NCT theo các nhóm chủ đề:
Nguồn gốc, cấu trúc của chủ nghĩa tuổi tác và định kiến xã hội
Robert Butler (1969, 1975) là người đặt nền móng với thuật ngữ "chủ nghĩa tuổi tác" (ageism), định nghĩa đây là quá trình định kiến có hệ thống và phân biệt đối xử đối với người già. Iversen, Larsen và Solem (2009) mở rộng khái niệm thành một hiện tượng đa diện gồm ba khía cạnh tâm lý xã hội (nhận thức, tình cảm, hành vi) vận hành ở ba cấp độ: vi mô (cá nhân), trung gian (mạng lưới xã hội) và vĩ mô (thể chế, văn hóa).
Palmore (1990, 2001) xây dựng hệ thống phân loại gồm định kiến (khuôn mẫu và thái độ) và phân biệt đối xử (cá nhân và thể chế). Tác giả nhận diện 9 khuôn mẫu tiêu cực (ốm đau, bất lực, xấu xí, suy giảm tinh thần, bệnh tinh thần, vô dụng, cô lập, nghèo đói, trầm cảm) đối lập với các khuôn mẫu tích cực (lòng tốt, sự khôn ngoan, đáng tin cậy, tự do, hạnh phúc). Ragan và Bowen (2001) chỉ ra rằng việc phổ biến thông tin chính xác có thể làm thay đổi thái độ tiêu cực về tuổi già. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2008) trong ấn bản "Demystifying the myths of ageing" đã phân loại 12 định kiến phổ biến về tuổi già nhằm thúc đẩy việc điều chỉnh môi trường sống và chính sách. Báo cáo của WHO (2021) và Claudia Mahler (2021) chỉ ra rằng cứ hai người trên toàn cầu thì có một người mang định kiến tuổi tác.
Tác động của định kiến và cơ chế tâm lý xã hội
Levy (1996, 2001, 2003, 2009) cùng Levy và Banaji (2002) phát triển lý thuyết khuôn mẫu tuổi tác và khái niệm "chủ nghĩa tuổi tác ngầm" (implicit ageism), chứng minh các khuôn mẫu tuổi tác tiêu cực được nội tâm hóa từ thời thơ ấu và tích lũy trong tiềm thức. Nghiên cứu thực nghiệm kéo dài 38 năm của Levy và cộng sự chỉ ra định kiến tiêu cực làm suy giảm trí nhớ, tăng căng thẳng tim mạch, giảm khả năng phục hồi chức năng và làm suy giảm ý chí sống của NCT. Ngược lại, tiếp xúc với các khuôn mẫu tích cực có thể duy trì hiệu suất hoạt động thể chất và tinh thần.
Rylee A. Dionigi (2015), Hess và cộng sự, Kotter-Grühn và Hess (2012) phân tích sự phức tạp trong việc tiếp nhận khuôn mẫu lão hóa. Thuyết mối đe dọa rập khuôn (stereotype threat) được Michael Inzlicht và Toni Schmader (2012), Kang và Jessica D. Remedios (2012) vận dụng để chỉ ra khi NCT rơi vào tình huống bị định kiến về sự suy giảm nhận thức, hiệu suất bộ nhớ của họ sẽ giảm sút rõ rệt. William von Hippel và cộng sự (2000) phát hiện NCT có xu hướng dựa vào khuôn mẫu nhiều hơn người trẻ do sự suy giảm khả năng ức chế thông tin. Esses và cộng sự (1994), Bustillos, Fernández-Ballesteros và Huici (2012) khẳng định vai trò của niềm tin biểu trưng và các kích hoạt nhãn dán trong việc hình thành thái độ đối với các nhóm xã hội.
Vai trò của truyền thông và giao tiếp liên thế hệ
Truyền thông được khẳng định là kênh củng cố các khuôn mẫu tuổi tác. Cruikshank (2009), Zebrowitz và Montepare (2000), Chonody và Teater (2016b), Officer và de la Fuente-Núñez (2018) cho thấy phim ảnh và báo chí thường khắc họa NCT với hình ảnh bất lực, ốm yếu hoặc lái xe kém. Anne Cornelia Kroon và cộng sự (2019) nghiên cứu tại Hà Lan giai đoạn 2004-2014 chứng minh tần suất xuất hiện thông tin tiêu cực về sức khỏe của lao động cao tuổi trên truyền thông làm gia tăng sự phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Reuben Ng (2021) khảo sát cơ sở dữ liệu truyền thông tiếng Anh tại Mỹ và Anh, phát hiện thông điệp miêu tả tiêu cực về NCT nhiều gấp sáu lần thông điệp tích cực.
Về giao tiếp liên thế hệ, Allport (1954) đưa ra Giả thuyết liên hệ (Contact Hypothesis), cho rằng tiếp xúc bình đẳng và hợp tác giữa các nhóm sẽ giảm định kiến. Wright và cộng sự (1997) phát triển Giả thuyết liên hệ mở rộng. Sibila Marques và cộng sự (2020), Drury và cộng sự (2016), Caspi (1984), Allan và Johnson (2009), Bousfield và Hutchison (2010), Schwartz và Simmons (2001) nhấn mạnh rằng bên cạnh tần suất tiếp xúc, chất lượng tiếp xúc tích cực liên thế hệ đóng vai trò quyết định trong việc giảm định kiến đối với NCT.
Các công cụ đo lường định kiến
- Thang đo Fraboni (FSA): Do Fraboni, Saltstone và Hughes (1990) xây dựng gồm 29 mục đo lường thái độ định kiến với NCT.
- Thang đo thái độ đối với lão hóa (AAQ): Do Shenkin và cộng sự (2014) phát triển gồm 24 mục đánh giá theo mô hình phân tích Mokken.
- Thang đo SIC (Succession, Identity, Consumption): Được Talley (2018) xác nhận cấu trúc nhân tố đo lường chủ nghĩa tuổi tác giữa các thế hệ dựa trên ba khía cạnh: Tiêu dùng tài nguyên, Sự kế thừa/tiếp nối vị trí xã hội và Bản sắc văn hóa.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam: kiểm chứng cấu trúc thang đo SIC hiện đại trong bối cảnh xã hội Việt Nam; đo lường cụ thể mức độ biểu hiện của từng loại hình định kiến xã hội về NCT tại một đô thị đang chuyển đổi mạnh mẽ; xác định mức độ tác động của các yếu tố dân số, giao tiếp liên thế hệ, khuôn mẫu văn hóa, truyền thông và hành vi sử dụng sản phẩm chống lão hóa bằng phương pháp mô hình hóa thống kê tối ưu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án vận dụng 3 lý thuyết xã hội học căn bản cùng các lý thuyết chuyên ngành:
- Thuyết tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism): Xem xét định kiến xã hội như một hệ thống ý nghĩa, biểu tượng được tạo dựng, duy trì và biến đổi thông qua các tương tác xã hội hàng ngày giữa các thế hệ.
- Thuyết hoạt động (Activity Theory): Khẳng định NCT duy trì các hoạt động xã hội, lao động và gắn kết cộng đồng sẽ duy trì được sự hài lòng về cuộc sống, hạn chế cảm giác thoái lui và tự cô lập.
- Thuyết dán nhãn (Labeling Theory): Giải thích quá trình xã hội áp đặt các nhãn mác "già nua", "vô dụng", "phụ thuộc" lên NCT và việc NCT tiếp nhận hoặc phản kháng các nhãn mác đó.
- Giả thuyết liên hệ (Allport, 1954; Wright et al., 1997): Luận giải cơ chế giao tiếp liên thế hệ giúp cải thiện thái độ đối với NCT.
Các khái niệm công cụ chính được làm rõ bao gồm: Người cao tuổi, Định kiến xã hội, Định kiến xã hội về người cao tuổi, và Già hóa dân số.
Khung phân tích và hệ thống biến số
Khung phân tích của luận án kết nối các biến số theo cấu trúc:
- Biến phụ thuộc: Định kiến xã hội về NCT, vận dụng thang đo SIC của Talley (2018) gồm 20 chỉ báo, đo lường trên thang đo Likert 5 điểm (1: Phản đối, 2: Phản đối một phần, 3: Lưỡng lự, 4: Đồng ý một phần, 5: Đồng ý):
- Định kiến tiêu dùng (Consumption): 7 chỉ báo (thời gian điều trị y tế, gánh nặng y tế, gánh nặng gia đình, đóng góp xã hội giảm dần, chi tiêu tài chính cho con cháu, ưu tiên ghế ngồi công cộng, lãng phí ngân sách nhà nước).
- Định kiến tiếp nối/kế thừa (Succession): 8 chỉ báo (cản trở phát triển, quyền lực chính trị không công bằng, thời điểm nhường chỗ cho người trẻ, năng suất lao động, thăng chức dựa trên kinh nghiệm thay vì năng suất, quyền bỏ phiếu ảnh hưởng tương lai).
- Định kiến bản sắc (Identity): 5 chỉ báo (không nên đến nơi của người trẻ, không nên đi chơi không gian giới trẻ, không nên tham gia câu lạc bộ trẻ, không nên dùng mạng xã hội Facebook, không nên cố tỏ ra sành điệu/lạnh lùng).
- Biến độc lập:
- Mức độ giao tiếp liên thế hệ: Tần suất tiếp xúc (với NCT nói chung và với ông bà/người thân); Chất lượng tiếp xúc (với NCT nói chung và với ông bà/người thân).
- Quan điểm về NCT của những người thường xuyên tiếp xúc.
- Ấn tượng về NCT khi tham gia các hoạt động xã hội (về năng lực, tính cách, diện mạo).
- Mức độ đồng tình với các khuôn mẫu về NCT: Khuôn mẫu văn hóa trong tương tác xã hội; Khuôn mẫu trên truyền thông.
- Sử dụng các sản phẩm, dịch vụ chống lão hóa.
- Biến can thiệp (nhân khẩu học): Giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, khu vực cư trú (đô thị / nông thôn), tôn giáo, tình trạng kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án quán triệt phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, coi định kiến xã hội thuộc lĩnh vực ý thức xã hội phản ánh các quan hệ tồn tại xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phương pháp định tính:
- Phân tích tài liệu: Khảo cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Người cao tuổi 2009, các chiến lược dân số) và các công trình khoa học trong và ngoài nước.
- Phỏng vấn sâu: Do bối cảnh dịch bệnh Covid-19 thực hiện giãn cách xã hội, tác giả triển khai phỏng vấn sâu qua điện thoại đối với 12 người (gồm 6 nam, 6 nữ; độ tuổi từ 23 đến 72; phân bổ ở cả khu vực nội thành và ngoại thành Hải Phòng). Phỏng vấn sâu được tiến hành trong hai giai đoạn: thử nghiệm hoàn thiện bảng hỏi và bổ trợ giải thích sâu các kết quả thống kê định lượng.
- Phương pháp định lượng:
- Công cụ thu thập: Bảng hỏi cấu trúc trực tuyến thiết kế trên Google Form, phối hợp cùng mạng lưới cán bộ, cộng tác viên Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hải Phòng gửi đường link tiếp cận người dân từ 18 tuổi trở lên tại các quận, huyện. Điều tra viên hỗ trợ thao tác đối với NCT không có thiết bị hoặc không thành thạo công nghệ.
- Chọn mẫu và quy mô mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên. Cỡ mẫu tính toán theo công thức của Hair và cộng sự (2006): $n = k \times \sum P_j$. Mô hình có 6 thang đo với tổng số 30 biến quan sát, tỷ lệ quan sát trên biến chọn $k = 10/1$, cỡ mẫu yêu cầu là $10 \times 30 = 300$. Dự phòng 10% sai số bảng hỏi không hợp lệ, mẫu tối thiểu cần thu thập là 330. Kết quả khảo sát thực tế thu được $N = 332$ mẫu hợp lệ.
Cơ cấu mẫu khảo sát thực tế ($N = 332$) được tổng hợp theo bảng dưới đây:
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm cụ thể |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
165 |
49,7% |
|
Nữ |
167 |
50,3% |
| Địa bàn cư trú |
Nông thôn (xã, thị trấn) |
161 |
48,5% |
|
Đô thị (phường) |
171 |
51,5% |
| Nhóm tuổi |
Dưới 30 tuổi |
65 |
19,6% |
|
Từ 30 đến dưới 40 tuổi |
82 |
24,7% |
|
Từ 40 đến dưới 50 tuổi |
78 |
23,5% |
|
Từ 50 đến dưới 60 tuổi |
57 |
17,2% |
|
Từ 60 tuổi trở lên |
50 |
15,1% |
| Trình độ học vấn |
Dưới cấp 1 / Tiểu học / THCS / THPT |
112 |
33,7% |
|
Cao đẳng, Đại học |
185 |
55,7% |
|
Sau đại học |
35 |
10,5% |
| Tình trạng kinh tế |
Giàu có / Khá giả |
42 |
12,7% |
|
Trung bình |
248 |
74,7% |
|
Khó khăn / Rất khó khăn |
42 |
12,7% |
| Tôn giáo |
Không theo tôn giáo nào |
258 |
77,7% |
|
Có theo tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa, khác) |
74 |
22,3% |
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Dữ liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng phần mềm R (phiên bản 4). Luận án thực hiện phân tích thống kê mô tả (tần số, trung bình) và phân tích hồi quy đa biến chọn mô hình tối ưu. Kỹ thuật này chạy đồng thời nhiều mô hình hồi quy để tìm kiếm mô hình tối ưu dựa trên tiêu chuẩn thông tin Bayes (BIC nhỏ nhất), xác suất hậu nghiệm (post prob) cao và loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các nghiên cứu trong nước và quốc tế về chủ nghĩa tuổi tác và định kiến xã hội đối với NCT. Luận án phân tích bối cảnh chuyển dịch kinh tế - xã hội từ nông nghiệp truyền thống (nơi kinh nghiệm tuổi già được tôn vinh) sang xã hội công nghiệp và tri thức (nơi ưu tiên năng suất, tốc độ và công nghệ). Tác giả làm rõ ba thành phần của chủ nghĩa tuổi tác (nhận thức, tình cảm, hành vi) theo Butler (1975), Iversen và cộng sự (2009); cơ chế nội tâm hóa khuôn mẫu theo Levy (2009); hệ thống 9 khuôn mẫu tiêu cực của Palmore (1990) và 12 định kiến tuổi già của WHO (2008).
Chương này cũng tổng thuật các thang đo phổ biến (FSA của Fraboni, AAQ của Shenkin, SIC của Talley); phân tích tác động tiêu cực của định kiến tới sức khỏe thể chất, trí nhớ, ý chí sống (Levy, Dionigi, Inzlicht & Schmader); tác động sai lệch từ khuôn mẫu trên truyền thông (Reuben Ng, Kroon); vai trò điều hòa của giao tiếp liên thế hệ (Allport, Wright, Marques, Drury). Từ đó, chương 1 xác định khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và xây dựng định hướng khảo sát thực địa.
Chương 2: Cơ sở lý luận trong nghiên cứu định kiến xã hội về người cao tuổi
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, hệ thống lý thuyết xã hội học và quan điểm thể chế:
- Khái niệm công cụ: Định nghĩa thao tác về Người cao tuổi, Định kiến xã hội, Định kiến xã hội về người cao tuổi và Già hóa dân số.
- Lý thuyết áp dụng: Luận chứng việc vận dụng Thuyết tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism) để giải mã các biểu tượng tương tác hàng ngày; Thuyết hoạt động (Activity Theory) làm cơ sở cho quan điểm phát huy tính tích cực xã hội của NCT; Thuyết dán nhãn để phân tích sự gán ghép định kiến tuổi tác; và Giả thuyết liên hệ làm cơ sở giảm thiểu định kiến.
- Quan điểm của Đảng và chính sách Nhà nước: Phân tích quan điểm của Đảng và các văn bản pháp luật hiện hành về NCT (trọng tâm là Luật Người cao tuổi năm 2009). Tác giả chỉ ra điểm nghẽn chính sách: hệ thống pháp luật vẫn nghiêng nặng về bảo trợ, phụng dưỡng mang tính thụ động; các quy định về tạo việc làm, khởi nghiệp, tín dụng ưu đãi và chuyển đổi nghề cho NCT chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể sau hơn một thập kỷ ban hành luật.
Chương 3: Thực trạng định kiến xã hội về người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả thống kê mô tả từ khảo sát thực địa $N = 332$ tại Hải Phòng, phân tích thực trạng các khuôn mẫu văn hóa và định kiến xã hội đối với NCT:
- Khuôn mẫu văn hóa và truyền thông: Phân tích mức độ đồng tình của người dân với các nhận định tích cực và tiêu cực về NCT theo nơi cư trú, nhóm tuổi và giới tính (Bảng 3.1 đến 3.9). Kết quả cho thấy các khuôn mẫu tích cực về sự khôn ngoan, gương mẫu vẫn được duy trì trong văn hóa gia đình, tuy nhiên các khuôn mẫu tiêu cực về sự chậm chạp, bảo thủ, khó tính bắt đầu phổ biến ở nhóm người trẻ đô thị.
- Thực trạng 3 loại hình định kiến xã hội (SIC):
- Định kiến tiêu dùng (Consumption): Đánh giá thái độ về việc NCT sử dụng các nguồn lực y tế, ngân sách nhà nước, tài chính gia đình (Bảng 3.10, 3.13, 3.16).
- Định kiến tiếp nối/kế thừa (Succession): Đánh giá quan điểm về việc NCT nên rút lui khỏi công việc, quyền lực chính trị để nhường chỗ cho thế hệ trẻ (Bảng 3.11, 3.14, 3.17).
- Định kiến bản sắc (Identity): Đánh giá quan niệm về việc NCT xâm nhập các không gian giải trí, công nghệ hoặc phong cách của giới trẻ (Bảng 3.12, 3.15, 3.18).
- Dữ liệu cho thấy các loại hình định kiến xã hội đối với NCT tại Hải Phòng nhìn chung chưa ở mức tiêu cực gay gắt, người dân vẫn giữ thái độ tôn trọng truyền thống, qua đó bước đầu ủng hộ Giả thuyết H1 của luận án.
Chương 4: Các yếu tố tác động đến sự hình thành định kiến xã hội về người cao tuổi
Chương 4 là phần phân tích định lượng chuyên sâu, trình bày các mô hình hồi quy đa biến tối ưu xử lý trên phần mềm R nhằm xác định mức độ tác động của các nhóm yếu tố đến 3 loại hình định kiến (Bảng 4.1 đến 4.21 và Hình 4.1 đến 4.6):
- Tác động của các yếu tố dân số học: Đánh giá mối liên hệ giữa nhóm tuổi, giới tính, khu vực cư trú (đô thị - nông thôn), trình độ học vấn và điều kiện kinh tế với từng loại định kiến (tiêu dùng, kế thừa, bản sắc).
- Tác động của giao tiếp liên thế hệ: Kiểm định ảnh hưởng của tần suất tiếp xúc và chất lượng giao tiếp (với NCT nói chung và với ông bà/người thân). Kết quả khẳng định chất lượng giao tiếp liên thế hệ tốt có tác động tỷ lệ nghịch, giúp giảm đáng kể mức độ định kiến xã hội.
- Tác động của mức độ đồng tình với các khuôn mẫu: Mô hình hồi quy khẳng định mức độ đồng tình với các khuôn mẫu tiêu cực trong đời sống và trên truyền thông có tương quan thuận rõ nét với xu hướng định kiến tiêu cực về tiêu dùng, kế thừa và bản sắc, xác nhận tính đúng đắn của Giả thuyết H2.
- Tác động từ ấn tượng xã hội và hành vi tiêu dùng chống lão hóa: Ấn tượng tích cực về năng lực, diện mạo của NCT khi tham gia các hoạt động xã hội làm giảm định kiến; trong khi quan điểm tiêu cực của những người thường xuyên tiếp xúc và tâm lý kỳ thị lão hóa (thông qua việc lạm dụng sản phẩm chống lão hóa) có xu hướng gia tăng định kiến bản sắc và kế thừa.
Chương 5: Bàn luận và giải pháp giảm thiểu định kiến xã hội về người cao tuổi
Chương 5 tổng hợp, bàn luận các kết quả nghiên cứu định lượng dưới lăng kính lý thuyết xã hội học và bối cảnh thực tiễn Việt Nam:
- Cơ sở thể chế và chính sách: Khẳng định quyền tham gia xã hội của NCT là quyền con người cơ bản theo các chuẩn mực quốc tế và Hiến pháp Việt Nam. Phân tích nguyên nhân sâu xa của định kiến bắt nguồn từ sự phân hóa vai trò trong quá trình công nghiệp hóa đô thị.
- Bàn luận kết quả nghiên cứu: Luận giải sự khác biệt giữa nhận thức lý tưởng và hành vi ứng xử thực tế; phân tích cơ chế mà truyền thông và mạng lưới xã hội khuếch đại các khuôn mẫu định kiến về tuổi tác.
- Hệ thống giải pháp: Đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện:
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật: Sớm ban hành Nghị định hướng dẫn Luật Người cao tuổi về nội dung phát huy vai trò, tạo việc làm, hỗ trợ tín dụng và chuyển đổi nghề cho NCT.
- Đổi mới định hướng truyền thông: Xóa bỏ các hình ảnh rập khuôn tiêu cực ("lụ khụ", "ốm yếu", "gánh nặng") trên báo chí, truyền hình; tăng cường phản ánh hình ảnh NCT năng động, tham gia phát triển kinh tế.
- Tăng cường kết nối liên thế hệ: Xây dựng các không gian sinh hoạt cộng đồng, các chương trình chia sẻ kỹ năng liên thế hệ nhằm nâng cao chất lượng tiếp xúc.
- Khuyến khích hoạt động xã hội của NCT: Đa dạng hóa các câu lạc bộ, mô hình học tập suốt đời, tạo điều kiện để NCT khẳng định vị thế và bản sắc trong đời sống đô thị.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình xã hội học tiên phong tại Việt Nam kiểm chứng và áp dụng thành công thang đo định kiến xã hội ba thành phần SIC (Succession - Kế thừa, Identity - Bản sắc, Consumption - Tiêu dùng) của Talley (2018) vào nghiên cứu thực nghiệm đối với NCT.
- Vận dụng và kết hợp hiệu quả hệ thống lý thuyết xã hội học (Tương tác biểu trưng, Thuyết hoạt động, Thuyết dán nhãn, Giả thuyết liên hệ) để giải thích cơ chế hình thành, duy trì và biến đổi của định kiến tuổi già trong bối cảnh một đô thị công nghiệp đang chuyển đổi kinh tế xã hội.
- Bổ sung cơ sở dữ liệu thực chứng về tâm lý xã hội và thái độ liên thế hệ đối với NCT tại Việt Nam, làm rõ mối quan hệ giữa chất lượng giao tiếp liên thế hệ, hình ảnh truyền thông và các loại hình định kiến xã hội.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng các khuôn mẫu văn hóa và định kiến xã hội đối với NCT tại thành phố Hải Phòng, chỉ ra rằng mức độ định kiến tiêu cực nhìn chung chưa gay gắt nhưng có sự khác biệt rõ rệt theo lứa tuổi và khu vực cư trú.
- Chứng minh bằng mô hình hồi quy đa biến tối ưu (sử dụng tiêu chuẩn BIC trên phần mềm R) rằng chất lượng giao tiếp liên thế hệ và hình ảnh tích cực của NCT trong các hoạt động xã hội là những yếu tố then chốt giúp triệt tiêu định kiến tiêu cực.
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách dân số và an sinh xã hội: khuyến nghị chuyển đổi căn bản cách tiếp cận chính sách từ "bảo trợ, chăm sóc thụ động" sang "già hóa năng động, phát huy nguồn lực NCT"; kiến nghị ban hành văn bản quy định chi tiết việc đào tạo chuyển đổi nghề, giới thiệu việc làm và hỗ trợ vốn vay cho NCT theo quy định của Luật Người cao tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn đại dịch Covid-19 bùng phát phức tạp và thực hiện giãn cách xã hội, do đó việc thu thập dữ liệu định lượng phải dựa trên khảo sát trực tuyến (Google Form) và phỏng vấn sâu qua điện thoại (12 trường hợp), có thể hạn chế khả năng tiếp cận sâu đối với một bộ phận người dân không sử dụng thiết bị thông minh.
- Quy mô mẫu khảo sát thực địa dừng lại ở 332 người tại địa bàn thành phố Hải Phòng, do giới hạn về thời gian và kinh phí nên chưa thể mở rộng so sánh liên vùng với các đô thị khác hoặc các vùng nông thôn thuần túy trên phạm vi cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô quốc gia hoặc so sánh giữa các vùng văn hóa khác nhau tại Việt Nam để kiểm chứng tính phổ quát của thang đo định kiến SIC.
- Đi sâu nghiên cứu thực nghiệm về tác động trực tiếp của định kiến xã hội tiêu cực đối với sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và ý chí sống của bản thân người cao tuổi.
- Nghiên cứu chuyên biệt về rào cản định kiến tuổi tác trên thị trường lao động và hiệu quả của các chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động cao tuổi.
Giá trị tham khảo
- Đối với giới học thuật, nghiên cứu sinh và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị cho các ngành Xã hội học, Tâm lý học xã hội, Dân số học, Công tác xã hội và Lão khoa xã hội. Điểm đáng tham khảo nổi bật là quy trình thao tác hóa thang đo SIC, bảng hỏi khảo sát định lượng và kỹ thuật chạy mô hình hồi quy chọn lọc mô hình tối ưu theo tiêu chuẩn BIC trên phần mềm R.
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam và UBND thành phố Hải Phòng trong việc rà soát, đánh giá hiệu quả thi hành Luật Người cao tuổi 2009; thiết kế các chương trình truyền thông xóa bỏ phân biệt tuổi tác và xây dựng các chính sách an sinh xã hội thích ứng với kỷ nguyên già hóa dân số.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng thang đo nào để đánh giá các loại hình định kiến xã hội đối với người cao tuổi?
Luận án vận dụng cấu trúc nhân tố của thang đo SIC (Succession, Identity, Consumption) của Talley (2018) gồm 20 chỉ báo, chia thành ba thành phần: Định kiến tiêu dùng (7 chỉ báo), Định kiến tiếp nối/kế thừa (8 chỉ báo), và Định kiến bản sắc (5 chỉ báo), được đánh giá theo thang đo Likert 5 điểm.
2. Khảo sát định lượng của luận án được tiến hành với quy mô mẫu bao nhiêu và bằng phương thức nào?
Khảo sát định lượng được thực hiện trên mẫu ngẫu nhiên xác suất gồm 332 người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) tại thành phố Hải Phòng. Do bối cảnh dịch bệnh Covid-19, dữ liệu được thu thập trực tuyến qua đường link Google Form với sự hỗ trợ của mạng lưới cộng tác viên Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 12 năm 2021.
3. Hai giả thuyết nghiên cứu chính được kiểm định trong luận án là gì?
- Giả thuyết H1: Các loại hình định kiến xã hội đối với NCT tại thành phố Hải Phòng ít mang sắc thái tiêu cực.
- Giả thuyết H2: Mức độ đồng tình với các khuôn mẫu tiêu cực về NCT trong tương tác xã hội và trên truyền thông tỷ lệ thuận với định kiến xã hội tiêu cực về NCT.
4. Dữ liệu định lượng trong luận án được phân tích bằng phần mềm và kỹ thuật thống kê nào?
Số liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm R (phiên bản 4). Tác giả áp dụng thống kê mô tả và kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến nhằm tìm kiếm mô hình hồi quy tối ưu dựa trên tiêu chuẩn thông tin Bayes (BIC nhỏ nhất) và xác suất hậu nghiệm (post prob), giúp sàng lọc và giữ lại các biến có mức độ giải thích tốt nhất.
5. Những lý thuyết xã hội học căn bản nào được tác giả lựa chọn làm nền tảng phân tích?
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự kết hợp của: Thuyết tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism), Thuyết hoạt động (Activity Theory), Thuyết dán nhãn (Labeling Theory) và Giả thuyết liên hệ (Contact Hypothesis của Allport, 1954; Wright và cộng sự, 1997).
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Xã hội học của nghiên cứu sinh Vũ Thái Hạnh là công trình nghiên cứu hệ thống về thực trạng và các yếu tố hình thành định kiến xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố Hải Phòng trong bối cảnh già hóa dân số diễn biến nhanh chóng. Bằng việc kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu định tính và khảo sát định lượng xử lý bằng mô hình hồi quy tối ưu trên phần mềm R, tác giả đã kiểm chứng thang đo định kiến ba thành phần SIC và làm rõ vai trò quyết định của chất lượng giao tiếp liên thế hệ cùng hình ảnh truyền thông đối với nhận thức xã hội. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn xác đáng, khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi tư duy chính sách từ bảo trợ thụ động sang phát huy tính tích cực, bảo đảm quyền và giải phóng tiềm năng đóng góp của người cao tuổi cho sự phát triển bền vững của đất nước.