Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER 1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer 1. Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật 1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật (nói chung): Hiện nay, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm hay giải thích từ ngữ phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học pháp lý: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”. Phổ biến pháp luật: Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) hay Từ và ngữ Hán Việt (NXB Từ điển Bách Khoa - 2002): "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến". Phổ biến pháp luật được hiểu nhằm làm cho các đối tượng hiểu thông suốt các quy định của pháp luật để áp dụng pháp luật trên thực tế. Phổ biến pháp luật mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, đối tượng tác động rộng rãi.
Phổ biến pháp luật được thực hiện thông qua các hội nghị, cuộc tập huấn, buổi sinh hoạt. Giáo dục pháp luật: Theo Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội". Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm: “Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên”. Qua đó cho thấy khái niệm phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau.
“So với phổ biến pháp luật thì giáo dục pháp luật cũng 8 luan an nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm, song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến pháp luật chính là các phương thức giáo dục pháp luật cụ thể” [19]. Tóm lại, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được hiểu theo cách ngắn gọn: PBGDPL là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch; truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể thực hiện hoạt động PBGDPL tác động đến đối tượng tiếp nhận phổ biến, giáo dục pháp luật. Qua đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng [50, tr.
Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa thiết thực, cấp thiết và quan trọng đối với đồng bào DTTS nói chung và ĐBDT Khmer nói riêng. Qua đó, giúp họ có ý thức tôn trọng pháp luật, biết tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật một cách chủ động, tích cực và đúng đắn; góp phần phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật, các văn bản pháp quy của các cấp chính quyền trong đời sống kinh tế - xã hội của ĐBDT Khmer. Khoản 1 Điều 2 Luật PBGDPL năm 2012 quy định “Công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật” [25, khoản 1 Điều 2]. Để có thể đưa ra khái niệm PBGDPL cho đồng bào dân tộc Khmer thì ta cần đề cập đến các khía cạnh sau: Thứ nhất, PBGDPL là hoạt động được thực hiện thông qua sự tác động qua lại, sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng PBGDPL.
Các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể của tỉnh chính là chủ thể PBGDPL có chức năng, nhiệm vụ thực hiện PBGDPL. Đối tượng tiếp nhận ở đây chính là đồng bào dân tộc Khmer đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Thứ hai, PBGDPL cho ĐBDT Khmer là hoạt động có tính định hướng, có mục đích cụ thể; phản ánh những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống về kiến thức, hiểu biết pháp luật, được chủ thể PBGDPL truyền đạt, chuyển tải để hóa thành nhu cầu tự thân của đối tượng là ĐBDT Khmer. 9 luan an Thứ ba, để hiện thực hóa về mục tiêu thì quá trình PBGDPL luôn tuân theo nội dung, chương trình PBGDPL cụ thể, dựa trên các phương pháp PBGDPL khoa học, hiện đại và hình thức PBGDPL phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người dân Khmer.
Điều đó, đòi hỏi các chủ thể PBGDPL phải tìm ra được các tiếp cận từ nội dung, phương pháp cho đến hình thức PBGDPL phù hợp với ĐBDT Khmer. Thứ tư, trong nội dung PBGDPL cho ĐBDT Khmer, chủ thể cần chú trọng đến nội dung phải thật rõ ràng; phương pháp truyền đạt dể hiểu, dể nhớ; hình thức PBGDPL phải hấp dẫn, sinh động, phù hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, tập quán lao động, sinh hoạt và quan trọng là trình độ học vấn của ĐBDT Khmer. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa đối tượng tiếp nhận PBGDPL cho ĐBDT Khmer so với cho các đối tượng xã hội khác. Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa: PBGDPL cho ĐBDT Khmer là hoạt động có định hướng, có tổ chức của các chủ thể PBGDPL, được tiến hành theo chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức nhất định, phù hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, tập quán sản xuất, sinh hoạt của đồng bào, nhằm hình thành và nâng cao ý thức pháp luật, góp phần xây dựng, củng cố ý thức về quyền con người, quyền công dân của ĐBDT Khmer để họ có thể tiếp cận và bảo vệ các quyền đó một cách có hiệu quả.
Các đặc trưng của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ĐBDT Khmer cũng phải tuân theo quy định chung của quá trình PBGDPL cho các đối tượng xã hội khác. Từ các đặc điểm về trình độ dân trí, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, và quan trọng là ngôn ngữ có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, PBGDPL cho ĐBDT Khmer là PBGDPL cho cộng đồng xã hội có cơ cấu lứa tuổi khác nhau. Hiệu quả công tác PBGDPL cho nhóm đối tượng này mang lại khác nhau cụ thể: với nhóm lứa tuổi học sinh phổ thông chỉ có nhiệm vụ chủ yếu là học, khả năng tập trung cao, có thể tiếp thu kiến thức, hiểu vấn đề nhanh và có trí nhớ tốt nên có thể tiếp thu kiến thức pháp luật tốt hơn. Đối với những người lớn tuổi thì thường bảo thủ, cũng như những mối quan tâm khác về cuộc sống 10 luan an gia đình nên thường miễn cưỡng khi tham gia các hoạt động PBGDPL.
Từ đặc trưng này, các chủ thể PBGDPL cho ĐBDT Khmer cần thấu hiểu và phân loại đối tượng phù hợp trước khi tiến hành PBGDPL cho họ. Thứ hai, nhà nước ta quản lý xã hội bằng pháp luật, thượng tôn pháp luật nên công dân Việt Nam nói chung, ĐBDT Khmer nói riêng, rất cần đến thông tin, kiến thức pháp luật. Những thông tin, kiến thức pháp luật cần PBGDPL cho ĐBDT Khmer không chỉ bao gồm các bộ luật, pháp lệnh, nghị định, các loại văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm những vấn đề thực tiễn về đời sống pháp luật diễn ra trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra, cần trang bị cho ĐBDT Khmer những kỹ năng thực tế cần thiết để họ có thể vận dụng pháp luật vào việc giải quyết các sự việc, vấn đề pháp luật xảy ra trong cuộc sống.
Riêng đối với đồng bào DTTS khác như Tày, Nùng, Mông… sinh sống ở vùng cao, biên giới, thuộc phía Đông Bắc của Tổ quốc, nội dung cốt yếu cần PBGDPL cho họ là những quy định về các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự; phòng, chống các tệ nạn xã hội; phòng, chống mua bán người, bạo lực gia đình; bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu; an toàn thực phẩm; an toàn giao thông;. Thứ ba, về nguyên tắc chủ thể PBGDPL phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung, đối tượng để lựa chọn và sử dụng phương pháp cho phù hợp. Đối với ĐBDT Khmer, các chủ thể cần tìm ra các phương pháp phù hợp nhất như: nêu những tình huống cụ thể, đặt câu hỏi, tranh luận, thảo luận để tìm hướng giải quyết vấn đề, từ đó họ rút ra được bài học kinh nghiệm và hiểu vấn đề sâu sắc hơn. Cũng như các đối tượng là đồng bào DTTS khác, cần cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến chính sách pháp luật theo hướng đơn giản hóa cho đồng bào dễ tiếp thu; tổ chức các hình thức sân khấu hóa liên quan đến pháp luật hoặc lồng ghép với các chương trình văn hóa văn nghệ phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt của đồng bào DTTS.… Thứ tư, tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung PBGDPL cũng như những đặc thù của cộng đồng người Khmer, chủ thể lựa chọn hình thức PBGDPL cho phù hợp như: tuyên truyền miệng, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; hội thi tìm hiểu pháp luật; trợ giúp pháp lý; cần thiết nhất là thông qua các vị chức sắc tôn giáo trong các chùa Khmer là những vị Hòa thượng, Thượng tọa, Achar bởi vì đa số 11 luan an ĐBDT Khmer phần lớn đều theo đạo Phật… So với vùng DTTS khác, việc phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng góp phần nâng cao hiệu quả PBGDPL; người có uy tín trong cộng đồng thiểu số có thể là già làng, trưởng bản, trưởng thôn.
Mỗi cộng đồng có một loại người uy tín khác nhau, không phải cứ già làng, trưởng bản là có uy tín, ví dụ, vùng người Dao thì người có uy tín là thầy cúng; vùng người Mông là ông trưởng dòng họ. Ở mức độ nhiều hay ít, họ cũng có được vốn kiến thức, sự hiểu biết pháp luật nhất định từ các kênh thông tin này.